Việt Nam cơ bản hoàn thành bản đồ hải lý cho 82% diện tích vùng biển

Việt Nam đã cơ bản hoàn thành bản đồ hải lý tỷ lệ 1:200.000 cho 82% diện tích vùng biển và thiết lập 12 Khu bảo tồn biển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững và quản trị tài nguyên biển hiệu quả

Bản đồ hải lý và quản trị biển được triển khai mạnh mẽ

Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, ông Nguyễn Đức Toàn, cho biết các địa phương đã đẩy mạnh triển khai Nghị quyết số 26/NQ-CP về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, đạt nhiều kết quả quan trọng.

Đến nay, cả nước có 12 Khu bảo tồn biển với tổng diện tích hơn 206.000 ha, trong đó có 185.000 ha biển. Việt Nam cũng đã cơ bản hoàn thành bản đồ hải lý tỷ lệ 1:200.000 cho 82% diện tích vùng biển, hỗ trợ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

Theo Nghị quyết 26/NQ-CP, 12 bộ và 21 địa phương ven biển được giao triển khai 51 nhiệm vụ, dự án. Phần lớn các dự án đã triển khai hoặc lồng ghép thực hiện, một số dự án đang hoàn thiện thủ tục để tiếp tục triển khai.

Kinh tế biển và môi trường được cải thiện

Công tác quản trị biển và đại dương có bước tiến rõ rệt với lần đầu tiên lập và phê duyệt quy hoạch không gian biển quốc gia, hoàn thiện hệ thống pháp luật về lấn biển và giao khu vực biển, cùng bộ chỉ tiêu thống kê và đánh giá quốc gia biển.

Kinh tế biển, ven biển tăng trưởng nhanh, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều ngành như dịch vụ hàng hải, logistics, cảng biển, đóng tàu, khai thác dầu khí, nuôi biển và du lịch biển phát triển vượt bậc. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng được đầu tư mạnh, tạo quỹ đất và động lực cho các trung tâm logistics, công nghiệp ven biển.

Các ngành năng lượng tái tạo và kinh tế biển mới cũng nổi lên, thúc đẩy kinh tế xanh và tuần hoàn. Công tác bảo vệ môi trường biển được tăng cường, nhiều hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo được phục hồi; ô nhiễm môi trường biển được kiểm soát tốt.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ biển, hợp tác quốc tế với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada và các tổ chức quốc tế được mở rộng; bản đồ hải đồ, địa hình đáy biển được hoàn thành ở phần lớn diện tích vùng biển.

Những hạn chế và định hướng phát triển

Tuy nhiên, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết vẫn còn một số hạn chế như thiếu cơ chế thu hút nguồn lực tư nhân, chồng chéo pháp luật, phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ, logistics và kinh tế cảng biển chậm đổi mới, hoạt động lấn biển chưa được đánh giá tổng thể. Quan trắc và điều tra cơ bản vùng biển sâu còn hạn chế do thiếu thiết bị chuyên dụng.

Cục trưởng Nguyễn Đức Toàn nêu 6 nhóm bài học kinh nghiệm, nhấn mạnh tiếp tục quán triệt Nghị quyết 36-NQ/TW, hoàn thiện thể chế, tăng cường điều phối liên ngành, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa cơ sở dữ liệu biển, đầu tư hạ tầng chiến lược, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường hợp tác quốc tế và hình thành Trung tâm quốc gia về giám sát, nghiên cứu khoa học biển.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa yêu cầu Cục Biển và Hải đảo Việt Nam rà soát toàn diện, báo cáo đầy đủ tình hình thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết 26/NQ-CP và tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW để phục vụ xây dựng Luật Môi trường biển và hải đảo, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và phù hợp thực tiễn Việt Nam

Theo: Vietnamplus