Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa cùng nông dân tại nhiều địa phương tiếp tục duy trì mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học, giúp cải thiện đất canh tác, giảm vật tư đầu vào và nâng cao hiệu quả kinh tế trên đồng ruộng.
- Ngoại giao tiếp tục khi khoảng cách giữa các bên vẫn còn
- Ba ngày im lặng sau cánh cửa căn nhà trong hẻm
- Đường dây lừa đảo công nghệ cao nhắm vào phụ nữ Việt
Vụ mùa năm 2026, mô hình được triển khai tại các xã Thọ Long, Xuân Lập, Thiệu Tiến và Thiệu Hóa, kế thừa kết quả từ dự án canh tác lúa thân thiện với môi trường giai đoạn 2021-2023. Người dân kết hợp xử lý rơm rạ với phương pháp tưới ngập khô xen kẽ và quản lý dinh dưỡng bằng bảng so màu lá để tối ưu quá trình sản xuất.
Theo kết quả thực hiện mô hình, lượng giống gieo cấy giảm từ 20-30% nhưng cây lúa vẫn sinh trưởng tốt, đẻ nhánh khỏe và ít sâu bệnh hơn. Ông Vũ Tiến Dũng, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, cho biết Hội sẽ tiếp tục phối hợp với cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp và chính quyền địa phương để chuyển giao kỹ thuật, xây dựng thêm các mô hình nhằm mở rộng phạm vi áp dụng.
Trong nhiều năm, đốt rơm rạ sau thu hoạch được xem là giải pháp nhanh và ít tốn chi phí để chuẩn bị cho vụ mới. Tuy nhiên, theo Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), Việt Nam mỗi năm phát sinh khoảng 47 triệu tấn phụ phẩm rơm rạ, trong khi tình trạng đốt đồng ngoài trời vẫn diễn ra ở nhiều nơi tại châu Á dù đã được cảnh báo từ lâu về các tác động tiêu cực.
Các chuyên gia của IRRI tại hội thảo tổ chức vào tháng 1/2026 nhận định nông dân không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc đốt rơm, bởi khi chưa có thị trường tiêu thụ phù hợp, phụ phẩm này thường bị coi là không có giá trị kinh tế. Vì vậy, nhiều quốc gia Đông Nam Á đang hướng tới việc biến rơm rạ thành nguồn hàng hóa có thể khai thác và tiêu thụ thay vì chỉ dừng lại ở các biện pháp tuyên truyền.
Cách làm tại Thanh Hóa cũng tương đồng với các mô hình lúa tuần hoàn, phát thải thấp đang được thí điểm ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo hướng tiếp cận này, rơm rạ được xem là nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất nông nghiệp thay vì chất thải cần loại bỏ ngay sau thu hoạch.

IRRI cũng lưu ý rằng không phải mọi hình thức đưa rơm rạ trở lại đồng ruộng đều mang lại hiệu quả môi trường như mong muốn. Tính toán dựa trên hướng dẫn của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy nếu vùi rơm còn ướt xuống ruộng ngập nước trong thời gian dưới 30 ngày trước vụ mới, lượng phát thải khí methane có thể tăng hơn 50% so với những ruộng không vùi rơm.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cấp cao của IRRI phụ trách các dự án kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ tại Việt Nam, cho rằng quá trình phân hủy cần được kiểm soát để vừa bổ sung chất hữu cơ cho đất vừa hạn chế phát thải khí nhà kính. Phương pháp sử dụng chế phẩm sinh học mà nông dân Thanh Hóa đang thực hiện phù hợp với định hướng này khi rơm được phân hủy có kiểm soát trên bề mặt ruộng trước khi hòa vào đất.
Dữ liệu từ hội thảo của IRRI cho thấy mô hình tích hợp chuỗi giá trị rơm rạ có thể giúp thu nhập nông dân tăng hơn 20%, tương đương khoảng 640 USD mỗi hecta mỗi năm, đồng thời khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có thể giảm tới 36% lượng phát thải từ rơm rạ nếu áp dụng các biện pháp quản lý bền vững. Tại Thanh Hóa, thu nhập trên mỗi sào tăng từ 615.000 đồng lên hơn 913.000 đồng, cho thấy hiệu quả rõ rệt đối với các hộ sản xuất lúa quy mô gia đình.
Từ một phụ phẩm từng bị đốt bỏ sau mỗi vụ gặt, rơm rạ đang dần trở thành nguồn lực hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bền vững. Sự thay đổi trong cách làm không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người dân mà còn góp phần xây dựng những cánh đồng xanh hơn cho các mùa vụ tiếp theo.
Minh Tâm (tổng hợp)
