Giữ bác sĩ ở vùng khó cần hơn tình yêu nghề

Tại Mường Lát (Thanh Hóa), BSCKI Nguyễn Tiến Trung chọn ở lại quê hương để chăm sóc sức khỏe người dân, nhưng để bác sĩ giỏi gắn bó lâu dài với vùng khó, cần thêm chính sách và điều kiện hành nghề phù hợp.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Y Thái Bình năm 2018, bác sĩ Nguyễn Tiến Trung, sinh năm 1993, trở về Mường Lát công tác. Năm 2021, anh tham gia Dự án 585, học chuyên ngành sản khoa và nhận bằng BSCKI, trở thành bác sĩ trẻ nhất tại bệnh viện có học vị này vào thời điểm đó.

Người tham gia Dự án 585 phải cam kết làm việc tại bệnh viện cử đi đào tạo ít nhất 5 năm. Tuy nhiên, với bác sĩ Trung, lý do ở lại không chỉ nằm trong cam kết, mà còn từ mong muốn giúp người dân quê nhà được chăm sóc sức khỏe thuận lợi hơn.

“Niềm vui lớn nhất sau khóa học là giúp được bà con tại quê hương”, anh nói.

Với đồng bào dân tộc thiểu số ở Mường Lát, việc đến bệnh viện trung tâm đã không dễ dàng, còn hành trình lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương càng tốn thời gian và chi phí. Có người vì ngại đường xa, điều kiện kinh tế mà không muốn tiếp tục điều trị. Bởi vậy, việc được khám, chữa bệnh ngay tại địa phương mang lại ý nghĩa thiết thực cho cả người bệnh lẫn thầy thuốc.

Bác sĩ Trung nhớ trường hợp chị Sùng Thị Cở, người phụ nữ từng trải qua 6 lần mang thai và có 2 lần sinh con thành công. Dù đã được tư vấn kế hoạch hóa gia đình, chị chưa thực sự làm theo lời khuyên do tập quán của người Mông. Trong lần trở lại bệnh viện gần đây, chị đưa con gái đến kiểm tra sức khỏe; đó cũng là em bé do bác sĩ Trung đỡ đẻ.

Chị Cở cho biết sẽ không sinh thêm con, muốn tập trung làm ăn và nuôi các con khỏe mạnh. Với bác sĩ Trung, sự thay đổi này cho thấy niềm tin của người dân đối với nhân viên y tế đang dần được củng cố.

Dù vậy, tình yêu nghề và niềm vui từ người bệnh chưa đủ để giữ chân bác sĩ có trình độ tại địa bàn khó khăn. Khoa Sản nơi anh làm việc tiếp nhận khoảng 15-20 bệnh nhân mỗi ngày, thực hiện khoảng 40 ca sinh và phẫu thuật mỗi tháng, trong khi trang thiết bị, vật tư vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chuyên môn.

Bác sĩ Trung mong có thêm phương tiện để triển khai những kỹ thuật đã học, như giảm đau sau sinh, sau phẫu thuật, đặt bóng cook và phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung. Khi có đủ điều kiện, người bệnh sẽ có thêm cơ hội điều trị tại địa phương, giảm chi phí và công sức đi lại.

Chính sách cần đi cùng điều kiện làm nghề

Tình trạng thiếu nhân lực y tế chất lượng cao vẫn là thách thức tại các tỉnh miền núi. Trong giai đoạn 2017-2025, Dự án 585 đã hỗ trợ Lai Châu đào tạo 53 BSCKI thuộc các chuyên ngành Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Gây mê hồi sức và Cấp cứu. Sau đào tạo, các bác sĩ trở về địa phương, triển khai kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và cấp cứu, góp phần giảm chuyển tuyến.

Tuy nhiên, theo BSCKII Nguyễn Thị Hương, Phó Giám đốc Sở Y tế Lai Châu, mỗi trạm y tế cấp xã tại tỉnh bình quân chỉ có 2,8 bác sĩ. Địa phương còn thiếu khoảng 83 bác sĩ so với mục tiêu đạt 4-5 bác sĩ mỗi trạm vào năm 2027 theo Nghị quyết 72. Khối lượng công việc ở tuyến xã cũng tăng khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được thực hiện.

Từ thực tế đó, Lai Châu đề nghị tiếp tục hỗ trợ đào tạo bác sĩ chuyên khoa I theo nhu cầu, đồng thời mở rộng đối tượng sang điều dưỡng, kỹ thuật y, dược và các nhóm nhân lực khác.

Ở cấp Trung ương, hai nghị định ban hành trong năm 2026 đề cập đến phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ đặc thù của ngành y tế. Nghị định 350/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp ưu đãi nghề 80% đối với viên chức làm chuyên môn y tế tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng ở địa bàn biên giới, hải đảo và các xã khu vực II, khu vực III vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi theo quy định. Mức này cũng áp dụng với một số vị trí thường xuyên, trực tiếp làm công việc đặc thù như hồi sức cấp cứu, chống độc, pháp y và giải phẫu bệnh.

Trong khi đó, Nghị định 192/2026/NĐ-CP quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế, đồng thời tăng hỗ trợ hằng tháng cho nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Mức hỗ trợ tương ứng tăng lên 0,5 lần và 0,7 lần mức lương cơ sở, thay cho mức 0,3 lần và 0,5 lần trước đây.

Đây là lực lượng trực tiếp gắn với cộng đồng, nhất là tại các thôn, bản xa trung tâm. Họ tuyên truyền, vận động người dân chăm sóc sức khỏe, theo dõi tình hình tại địa bàn và kết nối người dân với cơ sở y tế. Việc cải thiện chế độ hỗ trợ góp phần duy trì mạng lưới chăm sóc sức khỏe ở nơi người dân khó tiếp cận dịch vụ y tế.

Bên cạnh chính sách chung, một số địa phương xây dựng cơ chế thu hút nhân lực theo điều kiện thực tế. Sơn La đặt mục tiêu thu hút tối đa 225 bác sĩ, dược sĩ trong giai đoạn 2026-2030, với mức hỗ trợ một lần tùy trình độ, chuyên môn và kết quả đào tạo. Tại Quảng Trị, chính sách nhân lực y tế giai đoạn 2026-2030 dành mức hỗ trợ cao hơn cho một số bác sĩ được tuyển dụng về trạm y tế tại địa bàn vùng III, vùng II có đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các xã biên giới.

Các chính sách này góp phần bù đắp bất lợi về thu nhập và điều kiện làm việc để thu hút nhân lực. Tuy nhiên, mức hỗ trợ và đối tượng được hưởng khác nhau theo từng địa phương; khoản hỗ trợ ban đầu chưa thể giải quyết toàn bộ bài toán giữ chân nhân viên y tế.

Để bác sĩ phát huy chuyên môn và gắn bó lâu dài

Với bác sĩ Trung, sau hai năm đào tạo theo Dự án 585, điều anh mong muốn là có đủ trang thiết bị để áp dụng kỹ thuật đã học, giúp người dân được điều trị tốt hơn ngay tại Mường Lát. Nếu thiếu phương tiện và điều kiện thực hành, những kiến thức được đào tạo sẽ khó phát huy hết giá trị.

Đây cũng là vấn đề ngành y tế Lai Châu đặt ra. Bên cạnh đào tạo, địa phương kiến nghị mở rộng hỗ trợ cho nhiều nhóm nhân lực, cải thiện điều kiện làm việc và tăng khả năng tiếp cận chuyên môn cho tuyến dưới.

Người dân Lai Châu được thăm khám, kiểm tra sức khỏe. (Ảnh minh họa: THM)

“Giữ chân bác sĩ cần đồng thời giải quyết vấn đề thu nhập, điều kiện hành nghề và cơ hội phát triển”, bà Lê Lan Hương, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Y tế), chia sẻ khi nói về giải pháp thu hút và giữ chân bác sĩ tại tuyến cơ sở, vùng khó khăn.

Theo bà Hương, các chế độ phụ cấp nhằm cải thiện thu nhập, ghi nhận tính chất đặc thù và rủi ro của công việc y tế. Với địa bàn khó khăn, Bộ Y tế sẽ tiếp tục hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện và đánh giá tác động theo địa phương, nhóm nhân lực; đồng thời phối hợp với các địa phương về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo và hỗ trợ chuyên môn.

Muốn chính sách phát huy hiệu quả, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Thu nhập tốt hơn giúp nhân viên y tế giảm áp lực đời sống; đào tạo và chuyển giao kỹ thuật nâng cao năng lực chuyên môn; trang thiết bị cùng kết nối chuyên gia tạo điều kiện để kiến thức được vận dụng vào thực tế. Với lực lượng y tế thôn, bản, chế độ hỗ trợ ổn định cũng góp phần ghi nhận công việc bền bỉ ở tuyến gần dân nhất.

Đỗ Vân (tổng hợp)