Tại Đà Nẵng, tranh chấp tài sản giữa ông N. và bà A. khi ly hôn được giải quyết trên cơ sở xác định nguồn gốc đất, công sức tạo lập nhà ở và nghĩa vụ đối với các khoản nợ chung, nợ riêng.
- Va chạm giao thông trên tuyến đường liên xã
- Tìm thấy thi thể hai mẹ con đuối nước tại kênh Bắc, Thanh Hóa
- Đường dây ma túy xuyên quốc gia và cái giá phải trả
Vụ việc liên quan đến cặp vợ chồng kết hôn năm 2011, có một con chung và ly thân từ năm 2019. Trong quá trình giải quyết, hai bên bất đồng về quyền nuôi con, việc phân chia nhà đất cùng trách nhiệm thanh toán các khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.
Ông N. đề nghị trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà A. cấp dưỡng, đồng thời cho rằng mình có công sức đóng góp lớn hơn khi xây dựng căn nhà hai tầng. Bà A. muốn trực tiếp nuôi con, yêu cầu chia đôi tài sản chung và nhận phần giá trị được chia bằng tiền.
Ông N. xác định thửa đất do cha tặng riêng nên không đề nghị tòa phân chia quyền sử dụng đất. Ngược lại, bà A. cho rằng đất được cha mẹ chồng cho cả hai vợ chồng, đồng thời yêu cầu chia đôi cả nhà, đất và đồ dùng gia đình. Bà đưa ra lý do mình có công việc ổn định, thu nhập bình quân 8 triệu đồng/tháng, còn chồng không có việc làm ổn định.
Tòa xác định tài sản riêng, tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ
Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang cũ, TP Đà Nẵng, xác định căn nhà hai tầng cùng các vật dụng trong gia đình là tài sản chung, bởi cả hai bên đều thừa nhận cùng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Đối với thửa đất, tòa xác định quyền sử dụng đất đứng tên riêng ông N.,
có nguồn gốc từ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/1/2016 của cha ông. Bà A. không cung cấp được chứng cứ chứng minh đất được tặng cho chung hoặc hai vợ chồng đã thỏa thuận nhập thửa đất vào khối tài sản chung, trong khi cha ông N. xác nhận chỉ cho riêng con trai.
Về căn nhà hai tầng, ông N. đề nghị nhận 70% giá trị vì cho rằng mình đóng góp nhiều hơn. Tuy nhiên, tòa nhận định việc xây dựng được thực hiện bằng tiền vay mượn và vật liệu mua chịu, sau khi xây nhà, ông N. chịu trách nhiệm trả nợ, còn bà A. đảm nhiệm chi phí ăn uống, sinh hoạt và nuôi con. Từ những đóng góp của cả hai, tòa xác định chia đôi giá trị căn nhà là phù hợp.
Hai bên còn tranh cãi về khoản nợ hơn 264 triệu đồng mà ông N. cho là nghĩa vụ chung, chủ yếu phát sinh từ việc mua vật liệu xây nhà. Bà A. không đồng ý vì cho rằng chưa có căn cứ xác định các khoản tiền này là nợ chung. Theo công ty cung cấp vật liệu xây dựng, từ ngày 21/3 đến 28/8/2016, vợ chồng ông N. mua hàng trị giá hơn 206 triệu đồng, đã thanh toán 22 triệu đồng và còn nợ hơn 184 triệu đồng.
Bà A. thừa nhận việc mua vật liệu nhưng cho rằng khoản tiền đã được trả hết, song không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Tòa đánh giá ông N. là người chủ yếu quán xuyến việc xây dựng, từ mua vật liệu, chi tiêu đến thuê thợ; nếu không mua chịu và vay thêm thì hai vợ chồng không đủ tiền thực hiện công trình. Vì vậy, khoản nợ hơn 184 triệu đồng với công ty vật liệu xây dựng được xác định là nợ chung.
Đối với khoản nợ 30 triệu đồng và 5,1 chỉ vàng, bà Tr. cho biết đã cho vợ chồng ông N. mượn để trang trải chi phí xây nhà. Theo bà Tr., khi đặt vấn đề vay mượn, cả ông N. và bà A. đều có mặt; tuy nhiên, lúc giao tiền và vàng, bà A. không ở nhà. Do tình nghĩa chị em, bà Tr. không yêu cầu lập giấy vay nợ và cho biết bà A. biết việc này. Tòa xác định khoản nợ hơn 184 triệu đồng với công ty vật liệu xây dựng cùng khoản nợ bà Tr. gồm 30 triệu đồng và 5,1 chỉ vàng là nợ chung. Mỗi người có trách nhiệm trả một nửa các khoản nợ này.
Riêng khoản vay 80 triệu đồng của bà P., ông N. cho rằng đã mượn tiền để trả các khoản nợ ngân hàng của hai vợ chồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đây là nợ chung. Do đó, tòa không chấp nhận xác định khoản vay này là nợ chung của vợ chồng. Ông N. có trách nhiệm trả bà P. 50 triệu đồng.
Đỗ Vân (tổng hợp)
