Hàng giả không chỉ dựa vào giá rẻ hay bao bì bắt mắt mà còn có thể được tiếp sức bởi danh tiếng, hình ảnh và niềm tin người tiêu dùng trên mạng xã hội.
- Thanh Hóa mở 500 cơ hội việc làm trước khai trương
- Người Việt sống thọ hơn nhưng mang theo nhiều bệnh nền
- Sạt lở nhiều điểm, bản Na Ngân tiếp tục bị chia cắt
Ngày 22/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố Nguyễn Thị Hương, người được biết đến trên mạng xã hội với tên “cô giáo Hương”, cùng chồng là Vũ Hải Long để điều tra về tội Lừa dối khách hàng.
Theo thông tin điều tra ban đầu, sản phẩm Loramen chỉ có tác dụng hỗ trợ khử mùi, ngăn ngừa nấm ngứa và vi khuẩn, không có tác dụng cải thiện sinh lý như nội dung quảng bá. Doanh thu bán lẻ bước đầu được xác định hơn 11,6 tỷ đồng. Vụ án vẫn đang được điều tra để làm rõ trách nhiệm của những người liên quan.
Điểm đáng chú ý của vụ việc không chỉ nằm ở sản phẩm bị quảng bá sai công dụng. Đằng sau khả năng bán hàng còn là một yếu tố khó định lượng nhưng có sức tác động lớn: niềm tin.
Danh xưng “cô giáo” không phản ánh nghề nghiệp thực tế của người bán nhưng lại tạo cảm giác gần gũi, đáng tin. Khi hình ảnh này liên tục xuất hiện trong các video, sự quen thuộc có thể khiến người xem dễ chuyển từ theo dõi sang mua hàng.
Những sản phẩm ít được biết đến vì thế có thể tiếp cận khách hàng không phải bằng bằng chứng về chất lượng, mà bằng uy tín đã được tạo dựng quanh một con người, danh xưng hoặc hình ảnh.
Loramen cũng không phải trường hợp duy nhất cho thấy mối quan hệ giữa danh tiếng và hoạt động bán hàng. Trước đó, Võ Thị Ngọc Ngân, thường được biết đến với tên Ngân 98, bị khởi tố trong vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm.
Tại Thanh Hóa, cơ quan công an cũng khởi tố các vụ bán hàng qua mạng xã hội với hàng nghìn sản phẩm giả mạo nhãn hiệu nổi tiếng, tổng giá trị hàng đã bán được xác định trên 30 tỷ đồng.
Một vụ việc khác được nhắc đến là kẹo rau củ Kera. Tháng 11/2025, Tòa án tuyên Thùy Tiên, Quang Linh và Hằng Du Mục mỗi người 2 năm tù về tội Lừa dối khách hàng.
Theo cáo trạng, những người này tham gia xây dựng kịch bản, đăng video và livestream với các thông tin không đúng về vùng nguyên liệu, hàm lượng chất xơ và công dụng sản phẩm. Gần 130.000 hộp được bán cho hơn 56.000 khách hàng, thu hơn 17,5 tỷ đồng.
Khi niềm tin trở thành công cụ bán hàng
Người mua không thể trực tiếp nhìn thấy dây chuyền sản xuất hay tự kiểm nghiệm từng sản phẩm trước khi quyết định xuống tiền. Trong khi đó, họ lại có thể nhìn thấy hình ảnh của người nổi tiếng, người có ảnh hưởng, những video được đầu tư chỉn chu cùng hàng nghìn lượt thích và bình luận.
Những yếu tố này dễ tạo cảm giác sản phẩm đã được nhiều người kiểm chứng. Uy tín được tích lũy từ một lĩnh vực khác có thể vô tình trở thành “bảo chứng” cho hàng hóa, dù chất lượng thực tế chưa được kiểm tra tương xứng.

Từ đây hình thành một chuỗi bán hàng nhiều mắt xích: sản phẩm được gia công, bao bì được thiết kế bắt mắt, người có ảnh hưởng xuất hiện trước máy quay, nền tảng phân phối nội dung đến khách hàng và lượt tương tác tạo thêm cảm giác tin cậy.
Khi phát sinh vấn đề, trách nhiệm lại có nguy cơ bị phân tán. Người quảng cáo có thể cho rằng mình tin nhà sản xuất, người bán viện dẫn đơn vị gia công, trong khi nền tảng cho rằng họ chỉ cung cấp công nghệ.
Nếu không làm rõ nghĩa vụ của từng bên, người tiêu dùng có thể trở thành người phải tự kiểm tra sản phẩm, dù họ thường là bên yếu thế về thông tin.
Không nên chỉ quy trách nhiệm cho người mua vì “nhẹ dạ”. Niềm tin vốn là điều kiện cần thiết để thị trường vận hành. Người tiêu dùng không thể tự thử nghiệm mọi loại thuốc, mỹ phẩm hay thực phẩm trước khi mua. Chính vì sự chênh lệch thông tin đó mà pháp luật phải đặt ra cơ chế bảo vệ người tiêu dùng.
Với người có ảnh hưởng, số lượng người theo dõi không phải giấy phép để biến trải nghiệm cá nhân thành lời khẳng định về công dụng sản phẩm. Tuy nhiên, cũng không thể mặc nhiên xem mọi người xuất hiện trong quảng cáo là đồng phạm.
Điều cần được làm rõ là họ biết gì, có tham gia xây dựng nội dung gian dối hay không, có trực tiếp chốt đơn, nhận hoa hồng và đã xử lý thế nào khi nhận được cảnh báo. Nếu một người trực tiếp bán hàng, lặp lại công dụng chưa được chứng minh và hưởng lợi theo số đơn, việc nói mình chỉ quảng cáo không đương nhiên loại trừ trách nhiệm.
Các nền tảng cũng không phải nhà sản xuất và không thể kiểm nghiệm mọi mặt hàng. Dù vậy, họ kiểm soát khả năng tiếp cận khách hàng, có thể thu lợi từ quảng cáo hoặc giao dịch và nắm nhiều dữ liệu liên quan đến tốc độ tăng đơn, phản ánh của khách hàng hay giao dịch thanh toán.
Luật Thương mại điện tử năm 2025 và Nghị định 248/2026/NĐ-CP đã đặt ra trách nhiệm đối với người bán, người livestream và chủ quản nền tảng. Vấn đề là cơ chế bảo vệ người mua sẽ khó đạt hiệu quả nếu chỉ phản ứng sau khi hàng nghìn đơn hàng đã được giao.
Năm 2025, lực lượng Quản lý thị trường Hà Nội xử lý hơn 363 vụ việc liên quan đến thương mại điện tử, tổng số tiền phạt trên 6,4 tỷ đồng. Con số này cho thấy nguy cơ hàng vi phạm trên môi trường trực tuyến không còn là hiện tượng cá biệt.
Với thực phẩm, mỹ phẩm và các sản phẩm liên quan đến sức khỏe, nền tảng thương mại điện tử cần có cơ chế kiểm tra hồ sơ trước khi cho phép gắn chức năng mua hàng với những tuyên bố như chữa bệnh, giảm cân nhanh, tăng cường sinh lý hay bảo đảm hiệu quả.
Khi xuất hiện phản ánh đáng tin cậy về nguy cơ sức khỏe hoặc dấu hiệu gian dối nghiêm trọng, việc tạm dừng chức năng đặt hàng cần được thực hiện theo quy trình rõ ràng, có thời hạn và quyền giải trình.
Cơ quan quản lý cũng cần có khả năng tiếp cận dữ liệu cần thiết từ nền tảng bán hàng, đơn vị thanh toán và vận chuyển khi xuất hiện dấu hiệu bất thường. Việc kết nối dữ liệu về tài khoản, giao dịch, dòng tiền, kho hàng và số kiện đã giao có thể giúp xác định nhanh quy mô vụ việc và các chủ thể liên quan.
Bên cạnh đó, người bán cần lưu giữ hợp đồng gia công, hóa đơn, chứng từ nguồn nguyên liệu, hồ sơ công bố sản phẩm và kết quả kiểm nghiệm. Người quảng cáo hoặc livestream cũng cần lưu tài liệu dùng để kiểm tra công dụng, kịch bản quảng cáo và thỏa thuận về tiền công, hoa hồng.
Những tài liệu này là cơ sở để xác định ai cung cấp thông tin, ai biết nội dung không chính xác và ai hưởng lợi từ hoạt động bán hàng. Người càng trực tiếp chốt đơn hoặc nhận hoa hồng theo doanh số càng phải chủ động kiểm tra sản phẩm.
Hàng giả có thể được sản xuất từ nguyên liệu rẻ, nhưng thứ giúp nó tiếp cận người mua đôi khi lại là một tài sản đắt giá hơn nhiều: niềm tin.
Muốn ngăn hàng giả và gian dối trên môi trường mạng, việc kiểm tra không thể chỉ bắt đầu sau khi hàng nghìn đơn đã được giao. Cần kiểm soát ngay từ lúc một sản phẩm chưa được chứng minh chất lượng tìm cách mượn danh tiếng thật để bước vào thị trường và túi tiền của người tiêu dùng.
Hồng sơn (tổng hợp)
