Thịt nhập khẩu giá thấp được nhiều cơ sở kinh doanh thực phẩm lựa chọn

Từ kho đông lạnh ở Hà Nội đến chợ đầu mối, thịt nhập khẩu được bán với nhiều mức giá, trong đó một số sản phẩm có giá thấp hơn thịt nội địa theo ghi nhận của phóng viên.

Kho đông lạnh: từ hàng cao cấp đến bình dân

Hơn 7h sáng, tại một kho phân phối thực phẩm đông lạnh thuộc phường Khương Đình (Hà Nội), hoạt động mua bán diễn ra từ sớm. Kho rộng khoảng 200m2, phía trong bảo quản hàng đông lạnh, bên ngoài là khu vực phân loại, đóng gói và tập kết sản phẩm.

Khu phân loại có ba máy cắt thịt. Hơn chục công nhân làm việc liên tục, từ cắt xẻ, bao gói đến sắp xếp đơn hàng để tài xế nhận và chuyển đến khách. Các thùng thịt nhập khẩu được đưa ra khỏi kho, bóc dỡ và cắt thành từng phần theo yêu cầu; một phần thịt được phân loại ngay trên sàn khu vực bên ngoài.

Một nhân viên tại kho giới thiệu loại bò Kobe nhập từ Nhật Bản, được cắt theo kích thước, trọng lượng khách yêu cầu và chủ yếu cung cấp cho nhà hàng, cửa hàng thực phẩm. Theo nhân viên này, hàng được nhập liên tục và luân chuyển trong khoảng ba ngày. Kho đóng vai trò trung gian, nhận sản phẩm từ các kho tổng rồi phân phối cho nhà hàng, bếp ăn, cửa hàng thực phẩm và tiểu thương.

Thịt đông lạnh nhập khẩu được bày bán tại chợ đầu mối và đóng gói phân phối cho khách hàng (Ảnh minh họa: THM)

Với thịt heo, nhân viên kho cho biết giá khác nhau tùy chủng loại và mục đích sử dụng, như ba chỉ rút xương nhiều nạc cho bếp ăn hay ba chỉ nhiều mỡ cho nhà hàng, dao động khoảng 97.000 – 117.000 đồng/kg. Danh mục hàng lên tới hàng trăm mã, phục vụ các món nướng, hấp, kho, chiên, xào, lẩu.

Về giấy tờ, nhân viên tiếp thị cho biết hàng được bán kèm hồ sơ. Với ba chỉ heo, hồ sơ gồm giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật nhập khẩu, hóa đơn mua từ nhà nhập khẩu, giấy tờ thông quan, chứng nhận thú y của bên xuất khẩu và tờ khai thông quan. Tuy nhiên, nhân viên tại kho cho biết chỉ làm nhiệm vụ giới thiệu hàng, hóa đơn do kế toán cung cấp khi mua. Phóng viên chưa có điều kiện xác minh tính xác thực của các giấy tờ này.

Giá thành là yếu tố quyết định

Tại một chợ đầu mối ở phía Nam Hà Nội, thịt đông lạnh nhập khẩu được bày bán công khai. Một quầy bán thịt gà sơ chế sẵn một phần với giá khoảng 80.000 đồng/kg; các mặt hàng đùi tỏi gà, đùi gà, tim heo có giá 53.000 đồng/kg.

Chủ quầy cho biết hàng nhập chủ yếu từ Nga, Mỹ, Brazil và Ấn Độ, cung cấp cho bếp ăn công nghiệp, trường học, quán ăn, nhà hàng, và có tem nhập khẩu, nhãn phụ, ngày sản xuất, hạn sử dụng theo từng lô. Người này cũng cho rằng không loại trừ khả năng có sản phẩm bảo quản không đảm bảo, hàng cận hạn hoặc hết hạn vẫn được cấp đông và bán ra thị trường.

Anh T.V.X., chủ một đơn vị cung ứng thực phẩm sạch nội địa tại Hà Nội, cho biết hàng nhập có lợi thế vì giá cạnh tranh. Theo anh, thịt nội địa tươi và được kiểm soát chất lượng tốt hơn nhưng giá cao nên khó cạnh tranh. Đơn vị của anh cung cấp gà, vịt, heo, bò, trứng từ trang trại khép kín, song khách vẫn có xu hướng chọn hàng nhập khi cân nhắc chi phí. Doanh nghiệp vì thế phải tìm cách giảm bớt khâu trung gian để giữ khách.

Bảng so sánh giá bán các loại thịt nhập khẩu và thịt nội địa trên thị trường (Ảnh minh họa: THM)

Chị H., người mua thịt cho quán ăn, cho biết chọn thịt heo đông lạnh nhập từ Nga vì tỷ lệ nạc cao, ít mỡ, phù hợp nhu cầu chế biến. Theo báo giá bán buôn chị cung cấp, ba chỉ có xương khoảng 105.000 đồng/kg, rút xương khoảng 110.000 đồng/kg, trong khi hàng nội địa từ 130.000 đồng/kg trở lên.

Chị cho biết nếu mua ba chỉ nội địa cắt ngắn thớ để bớt mỡ, giá có thể lên 130.000 – 150.000 đồng/kg. Thịt nhập được cắt sẵn, nhiều nạc, ít hao hụt khi nấu nên giúp giảm chi phí. Chị đã lấy hàng này khoảng một năm và cho biết chưa gặp vấn đề. Với những cơ sở như vậy, chênh lệch giá và đặc điểm sản phẩm là một trong những lý do khiến thịt đông lạnh nhập khẩu được lựa chọn.

Hồng Sơn (tổng hợp)