Hà Nội – Khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi thuộc nhóm không có việc làm, không học tập và không tham gia đào tạo trong quý III/2026, đặt ra yêu cầu tháo gỡ những rào cản trong định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và tiếp cận thị trường lao động.
- Bóc gỡ mạng lưới lừa đảo công nghệ cao quy mô lớn
- Vai trò của từng bị cáo trong vụ án ma túy
- Nam sinh đánh cô giáo ở Hà Nội: Nạn nhân tổn hại sức khỏe 12%
Con đường tìm việc sau tốt nghiệp của nhiều người trẻ không diễn ra thuận lợi như kỳ vọng, kể cả khi có bằng đại học loại Giỏi. Từ trải nghiệm của những người đang loay hoay tìm hướng đi đến các đề xuất của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hỗ trợ đúng nhu cầu, giúp thanh niên từng bước ổn định việc làm và cuộc sống.
Thanh Tú, 22 tuổi, tốt nghiệp một trường đại học ở Hà Nội vào tháng 7/2026 với tấm bằng Giỏi, nhưng vẫn chưa tìm được công việc phù hợp. Do chi phí sinh hoạt tại thủ đô cao, cô trở về quê ở Phú Thọ tìm việc và từng tiếp cận một vị trí cách nhà khoảng 3km .Tuy nhiên, sau buổi phỏng vấn, Tú quyết định không tiếp tục vì nhận thấy công việc có nhiều ràng buộc, trong khi bản thân chưa có kinh nghiệm và phải trải qua khoảng 2-3 tháng đào tạo.
Nhìn lại quá trình học tập, Tú cho rằng mình có thể đã chọn chưa đúng ngành, khi chưa hiểu rõ sở thích và thế mạnh của bản thân. Gia đình làm nông, bố mẹ không định hướng cụ thể nên cô chủ động quyết định con đường học tập sau khi không trúng tuyển vào trường đại học mong muốn. “Lúc chọn ngành, em cũng không biết mình thích gì, giỏi gì, cũng không có năng khiếu gì nổi bật”, Tú chia sẻ.
Trong thời gian học đại học, cô từng làm nhân viên kinh doanh nhưng cảm thấy áp lực dù công việc đúng chuyên ngành. Sau đó, Tú chuyển sang nhập liệu, gán nhãn dữ liệu cho một doanh nghiệp trong lĩnh vực giao thông để phục vụ huấn luyện trí tuệ nhân tạo (AI). Công việc ít áp lực hơn nhưng lặp lại, Theo cô doanh nghiệp không có chương trình đào tạo bổ sung kỹ năng chuyên môn, khiến cô khó hình dung cơ hội phát triển lâu dài.
Không chỉ gặp khó khăn khi lựa chọn công việc, Tú còn nhận thấy khoảng cách giữa yêu cầu tuyển dụng và kinh nghiệm của sinh viên mới ra trường. Theo cô, nhiều doanh nghiệp đòi hỏi ứng viên có ít nhất một năm kinh nghiệm, trong khi thời gian thực tập của sinh viên thường chỉ kéo dài 1-3 tháng. Chứng kiến một người bạn có kết quả học tập thấp hơn nhưng đã có công việc ổn định hơn, cô bắt đầu suy nghĩ nhiều hơn về kỹ năng thực tế và khả năng thích nghi.
“Lúc đầu em còn hừng hực khí thế lắm, nhưng dần dần thì lại nản”, Tú chia sẻ về tâm trạng sau những lần tìm việc không như mong muốn. Cô cũng tự nhận khả năng chịu áp lực của mình còn hạn chế và đôi khi chưa dễ dàng chấp nhận. những yêu cầu hoặc cách làm việc không đồng tình. “Em thấy khả năng chịu áp lực của em khá kém nên khi tìm việc thấy áp lực cao thì rất ngại”, cô nói.
Trung Hiếu, 23 tuổi, tốt nghiệp ngành thiết kế đồ họa năm 2025, cũng trải qua nhiều tháng tìm việc không thành công. Anh gửi hồ sơ đến các công ty truyền thông, quảng cáo và studio thiết kế nhưng thường gặp yêu cầu về kinh nghiệm thực tế, khả năng sử dụng thành thạo phần mềm chuyên môn và sản phẩm cá nhân có tính cạnh tranh. Dù từng nhận một số dự án thiết kế nhỏ khi còn đi học, Hiếu vẫn chưa tìm được vị trí phù hợp.
Các dự án ngắn hạn không mang lại công việc đều đặn, trong khi vị trí toàn thời gian đòi hỏi khả năng đáp ứng tiến độ và yêu cầu của khách hàng. Hiếu từng cân nhắc chuyển sang làm nội dung hoặc công việc văn phòng để có thu nhập trước mắt, nhưng lại thiếu kinh nghiệm ở những lĩnh vực này. Sau nhiều lần tìm việc không thành, anh dần mất động lực và cảm thấy kiến thức đã học chưa đủ giúp mình đứng vững trong môi trường làm việc thực tế.
Hai trường hợp có hoàn cảnh và chuyên ngành khác nhau nhưng cùng cho thấy những khó khăn khi chuyển từ giảng đường sang thị trường lao động. Bên cạnh năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, kỹ năng thích nghi và khả năng xác định hướng đi phù hợp cũng ảnh hưởng đến cơ hội tìm việc. Khi quá trình tìm kiếm kéo dài, sự thất vọng có thể khiến người trẻ giảm động lực tiếp tục học tập, đào tạo hoặc tìm kiếm cơ hội mới.
Theo Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, trong tháng 9/2026, thành phố ước có khoảng 45.000 người có nhu cầu tìm việc. Nhóm có trình độ đại học trở lên chiếm 33,4%; công nhân kỹ thuật không bằng chiếm 13,8%, cao đẳng 7%, trung cấp 4,9% và sơ cấp 1,4%. Trong cơ cấu độ tuổi, nhóm 15-24 tuổi chiếm 17,8%; kết quả khảo sát hơn 7.000 hồ sơ cho thấy nhu cầu việc làm hiện diện ở cả lao động trẻ lẫn những nhóm tuổi khác.
Hỗ trợ đúng nhu cầu, kết nối đào tạo với việc làm
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng thanh niên ở ngoài cả môi trường học tập, đào tạo và việc làm trong thời gian dài có nguy cơ mất dần kỹ năng, kinh nghiệm và sự tự tin. Bà lưu ý không nên quy nguyên nhân đơn giản cho tâm lý ngại học, ngại làm, bởi mỗi người có hoàn cảnh khác nhau. Có người chưa tìm được việc phù hợp, thiếu kỹ năng, gặp khó khăn về sức khỏe, kinh tế hoặc phải chăm sóc con nhỏ, người thân; cũng có người nản lòng sau nhiều lần ứng tuyển thất bại.
Từ thực tế đó, bà Nga đề nghị xây dựng cơ chế phối hợp để nhận diện, tiếp cận và hỗ trợ thanh niên “3 không”. Bộ Nội vụ cần chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, địa phương và tổ chức Đoàn khai thác dữ liệu hiện có, kết hợp tiếp cận tại cộng đồng thay vì tạo thêm những hệ thống dữ liệu riêng lẻ. Trung tâm dịch vụ việc làm cũng cần phối hợp với cấp xã, trường học và tổ chức Đoàn để tìm đến người cần hỗ trợ, nhất là sau khi rời trường, tốt nghiệp nhưng chưa có việc hoặc vừa mất việc.
Theo đề xuất của đại biểu, giải pháp cần được thiết kế theo nhu cầu của từng nhóm thanh niên. Người thiếu kỹ năng cần được tư vấn và đào tạo nghề sát yêu cầu tuyển dụng; người đã có chuyên môn nhưng chưa tìm được việc cần được hỗ trợ hoàn thiện kỹ năng ứng tuyển và kết nối doanh nghiệp. Với người phải chăm sóc gia đình, cần xem xét lịch học linh hoạt, dịch vụ giữ trẻ hoặc việc làm phù hợp; những trường hợp gặp khó khăn về tâm lý cần được tư vấn, đồng hành.

(Ảnh minh họa: THM)
Bà Nga đề xuất thí điểm cơ chế phối hợp tại một số địa bàn ngay trong năm 2027, trong đó mỗi người tham gia được đánh giá nhu cầu, xây dựng lộ trình hỗ trợ và có đầu mối theo dõi. Việc đào tạo cũng cần gắn với nhu cầu tuyển dụng đã xác định, có sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá kỹ năng. Nhà nước có thể nghiên cứu hỗ trợ một phần chi phí đào tạo tại doanh nghiệp cho thanh niên khó khăn, đi kèm yêu cầu về hướng dẫn nghề, an toàn, thù lao và kết quả tuyển dụng.
Hỗ trợ học nghề cần tính đến chi phí đi lại, ăn ở và điều kiện tham gia để người học có thể theo đuổi chương trình đến cùng. Hiệu quả chính sách nên được đánh giá qua tỷ lệ quay lại học tập, hoàn thành đào tạo, có việc làm và duy trì việc làm sau 6 tháng, 12 tháng, thay vì chỉ đếm số người tham gia. Cách đánh giá này giúp xác định liệu các chương trình có thực sự cải thiện cơ hội việc làm và khả năng ổn định nghề nghiệp hay không.
Ngoài đào tạo và kết nối tuyển dụng, Theo bà Nga, người lao động có kỹ năng, cơ hội việc làm và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu sẽ có điều kiện ổn định cuộc sống và đóng góp lâu dài. Với lao động trẻ, quyết định nhận việc còn phụ thuộc vào khả năng chi trả tiền thuê nhà, đi lại, gửi con và khám chữa bệnh. Vì vậy, quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị cần gắn với nhà ở cho thuê phù hợp khả năng chi trả, trường học, cơ sở giữ trẻ và dịch vụ y tế.
Để giải quyết tình trạng thanh niên “3 không”, việc hỗ trợ không thể chỉ dừng ở khâu giới thiệu việc làm mà cần tính đến cả kỹ năng, hoàn cảnh sống và khả năng duy trì công việc. Đại biểu đề nghị kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2027 xác định rõ hơn cơ chế hỗ trợ có trọng tâm đối với nhóm thanh niên này. Khi chính sách tiếp cận đúng người, đào tạo sát nhu cầu và giảm được những rào cản thiết yếu, người trẻ sẽ có thêm điều kiện tìm được hướng đi phù hợp, ổn định cuộc sống và đóng góp cho xã hội.
Đỗ Vân (tổng hợp)
