Vận hành hồ thủy điện: Xả lũ thiếu chủ động đẩy dân hạ du vào thế nguy hiểm


Trong đợt mưa lũ cực đoan vừa qua tại miền Trung, việc vận hành hồ thủy điện trong trạng thái “lấp lửng” rồi bất ngờ xả lũ đã khiến nước đổ về dồn dập, làm nhiều khu vực hạ du ngập sâu chỉ trong thời gian ngắn. Chuyên gia cảnh báo cách điều tiết này đang đẩy người dân vào thế bị động và đầy rủi ro.

Xung đột lợi ích khiến quy trình vận hành trở nên bị động

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng trao đổi về những bất cập trong vận hành hồ thủy điện
(Ảnh: VietNamNet)

Tranh cãi về vận hành hồ chứa tiếp tục nóng lên khi các chuyên gia chỉ ra những bất cập kéo dài trong cơ chế điều tiết nước. GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, cho biết nhiều hồ thủy điện hiện có dung tích phòng lũ quá nhỏ so với tổng dung tích chứa. Có nơi, hồ lên tới 800 triệu m³ nhưng dung tích cắt lũ chỉ khoảng dưới 10%.

Muốn tăng dung tích đón lũ, hồ buộc phải hạ mực nước từ sớm. Tuy nhiên, điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng điện, tua-bin vận hành kém hiệu quả và doanh thu giảm sút. Bởi vậy, nhiều chủ đầu tư thường chần chừ làm theo các yêu cầu xả nước sớm, chỉ xả khi có lệnh hành chính và thường trong tâm thế miễn cưỡng.

Theo GS. Dũng, việc chỉ đạo theo kiểu “0 – 5.000 m³/s” tạo ra khoảng vận hành mơ hồ. Có trường hợp buổi sáng hồ chỉ xả 200-300 m³/s, nhưng đến chiều, khi nước về nhanh, họ buộc phải mở cửa xả lên 4.000 m³/s, khiến mực nước hạ du tăng đột ngột, người dân không kịp trở tay.

Ông cho rằng mọi yêu cầu vận hành phải dựa trên tính toán kinh tế – kỹ thuật, đồng thời Nhà nước cần có cơ chế bù đắp thiệt hại cho doanh nghiệp khi buộc họ phải xả trước để đón lũ, có thể thông qua Quỹ phòng chống thiên tai. “Không thể kêu gọi tư nhân đầu tư rồi khi xảy ra rủi ro lại đổ toàn bộ trách nhiệm lên họ”, ông nói.

Điều chỉnh mục tiêu: Giảm lũ phải là ưu tiên bắt buộc

Hiện tổng dung tích các hồ chứa trên cả nước khoảng 70 tỷ m³, trong đó thủy điện chiếm phần lớn với 55 tỷ m³. Thực tế vừa qua cho thấy phần lớn thiệt hại tại hạ du đến từ xả lũ thủy điện chứ không phải hệ thống thủy lợi.

GS. Dũng cho rằng khi được phê duyệt, nhiều hồ đặt ưu tiên phát điện lên hàng đầu, nhiệm vụ cắt lũ chỉ mang tính kết hợp. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, mục tiêu giảm lũ phải trở thành yêu cầu bắt buộc.

Ông nhấn mạnh Việt Nam hoàn toàn có khả năng ứng dụng bản đồ ngập lụt theo thời gian thực để giám sát và dự báo rủi ro. Công nghệ này giúp lượng hóa mực nước, diện tích ngập và số người trong vùng nguy hiểm, từ đó hỗ trợ sơ tán chính xác hơn và tránh tình trạng bị động như những ngày mưa lũ vừa qua.

Khoảng trống pháp lý với các loại đập mới

Một vấn đề khiến chuyên gia lo ngại là nhiều loại hình đập mới như đập bùn thải, đập phục vụ du lịch vẫn chưa nằm trong khung pháp lý về an toàn đập. Sự cố gần đây tại Lâm Đồng cho thấy khoảng trống pháp luật đang tạo ra rủi ro lớn cho cộng đồng. GS. Dũng đề xuất cần hợp nhất quy định và tiến tới xây dựng Luật An toàn đập theo mô hình Ấn Độ.

PGS.TS Hoàng Thái Đại, đại diện Hội Thủy lợi Việt Nam, cho rằng việc hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Môi trường là bước đi đúng đắn, giúp thống nhất dữ liệu và cơ chế quản lý tài nguyên nước. Trong bối cảnh nhiều ngành liên quan đến đập thủy điện, ông nhấn mạnh cần có cơ quan điều phối thống nhất để quy trình vận hành liên hồ thực sự hiệu quả và giảm thiểu xung đột như lâu nay.

Theo: VietNamNet