HÀ NỘI — Sau 10 ngày nước sông Bùi vây kín xóm Nằng, xã Xuân Mai, nhiều người dân vẫn phải chèo thuyền về nhà để trông coi tài sản, vật nuôi và dọn dẹp, trong khi người già, trẻ nhỏ chưa thể trở lại do nhà cửa còn ngập bùn và ẩm ướt.
- Thanh Hóa triệt phá đường dây sản xuất, buôn bán thuốc An Cung giả quy mô lớn
- Xét kháng cáo xin hưởng án treo của Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến
- Hai nạn nhân vụ án mạng ở Củ Chi qua cơn nguy kịch
Chiều 25/9, anh Nguyễn Tiến Phấn, 36 tuổi, chèo thuyền tôn về xóm Nằng, thôn Tiến Tiên sau một ngày làm thợ xây. Anh xắn quần, lội qua lớp bùn nhão ngập ngang bắp chân để vào nhà, còn mẹ 72 tuổi, vợ và ba con nhỏ đã sơ tán sang nhà em trai cách khoảng 2 km.
Suốt 10 ngày, anh cùng một số người đàn ông ở lại trông tài sản và vật nuôi. Ban đêm, họ ngủ trên những chiếc giường kê cao sát mép nước lũ; sáng chèo thuyền ra khu đất cao gửi xe máy rồi đi làm, chiều tối mang nước sạch và thực phẩm trở về. “Da chân tôi ngứa ran vì ngâm nước bẩn liên tục, nhiều lúc khó chịu quá phải cúi xuống gãi”, anh Phấn kể.
Nước sông Bùi dâng nhanh từ giữa tháng 9, vượt báo động III ngày 16/9 và đạt đỉnh vào ngày 17-18/9. Tại trạm Yên Duyệt, mực nước có lúc gần 7,9 m, mức cao nhất được ghi nhận trong nhiều năm.
Nước tràn qua nhiều đoạn đê thấp của tuyến Bùi 2, vào các thôn Nam Phương, Tiến Tiên của xã Xuân Mai và nhiều khu dân cư ven sông thuộc xã Trần Phú, Quảng Bị. Có nơi ngập 1-2 m, gần chạm mái nhà cấp bốn; một số điểm trường phải chuyển sang học trực tuyến hoặc cho học sinh nghỉ, hàng nghìn hộ dân sơ tán khẩn cấp.
Sau đỉnh lũ, số nhà ngập giảm từng ngày. Khoảng 21/9, toàn thành phố còn hơn 3.300 nhà ngập; đến 25/9 còn hơn 2.050 nhà. Tuy nhiên, tại các thôn xóm vùng trũng, nước rút chậm hơn nhiều so với mực nước ngoài sông.
Nước ngoài sông hạ, trong xóm vẫn ngập
Xóm Nằng nằm trong vùng phân lũ của Hà Nội, nơi trũng thấp và khả năng tiêu thoát của sông Bùi hạn chế nên hầu như năm nào mưa lớn kéo dài cũng xảy ra ngập.

Mực nước sông đã hạ gần 1 m so với đỉnh lũ, nhưng nước trong xóm mới rút 20-30 cm. Nước từ ruộng đồng, ao hồ tràn vào nền nhà thấp hơn mặt sông chỉ có thể thoát chậm hoặc chờ bơm tiêu, vì vậy sông hạ chưa đồng nghĩa người dân có thể trở về.
Gánh nặng của người dân cũng kéo dài khi ban ngày vẫn phải đi làm, tối lại trở về canh giữ tài sản giữa nước bẩn và bùn đặc. Có ngày anh Phấn mặc nguyên bộ đồ mưa từ sáng đến tối và di chuyển hoàn toàn bằng thuyền.

Khi nước hạ, thiệt hại dần lộ ra. Đồ điện tử ngâm nước hỏng, gà, cá và vật nuôi chết trôi vào sân, mắc trên hàng rào.
Anh Nguyễn Đình Tưởng đưa cả gia đình ra ngoài làng tránh lũ nhưng mỗi ngày vẫn trở về dọn bùn, vớt xác vật nuôi. Dù vậy, anh không nghĩ đến chuyện rời xóm: “Không bỏ được. Đây là nơi châu rau cắt rốn, có mồ mả người thân. Đi chỗ khác làm sao có tiền mua đất, dựng nhà?”
Khi bùn được dọn khỏi nhà, câu hỏi về việc tiếp tục bám trụ hay dời đi vẫn còn đó trên những mái nhà ẩm ướt.
Lê Toan (tổng hợp)
