Xuất nhập khẩu kỷ lục 920 tỉ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15

Xuất nhập khẩu Việt Nam đạt kỷ lục hơn 920 tỉ USD, tăng khoảng 16,9% so với năm 2024, theo ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) trao đổi với Tuổi Trẻ. Dấu mốc này đưa Việt Nam vào nhóm 15 nền thương mại lớn nhất toàn cầu.

Xuất nhập khẩu tăng mạnh nhờ chế biến – chế tạo và nông sản

Ông Nguyễn Anh Sơn cho biết kinh tế thế giới vẫn biến động. Chuỗi cung ứng có nơi bị đứt gãy cục bộ. Nhu cầu tại một số thị trường lớn phục hồi chưa đồng đều. Trong bối cảnh đó, nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn thích ứng tốt. Nhiều doanh nghiệp tận dụng cơ hội thị trường hiệu quả hơn.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến – chế tạo tiếp tục giữ vai trò trụ cột. Nhóm này chiếm khoảng 85% tổng kim ngạch. Nhiều ngành duy trì mức tăng trưởng hai con số. Các lĩnh vực điện tử, máy móc thiết bị, dệt may, da giày, đồ gỗ được nêu như những điểm sáng.

Theo ông Sơn, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tái cơ cấu sản xuất. Nhiều đơn vị đa dạng hóa thị trường và sản phẩm. Việc tận dụng các hiệp định thương mại (FTA) được đẩy mạnh hơn. Nhờ vậy, doanh nghiệp có thể duy trì và mở rộng đơn hàng, dù chi phí thương mại toàn cầu tăng.

Bên cạnh chế biến – chế tạo, nhóm hàng nông, lâm, thủy sản ghi nhận nhiều điểm sáng. Nhiều mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, rau quả, thủy sản tăng về kim ngạch. Đồng thời, cơ cấu chất lượng và giá trị gia tăng có chuyển dịch tích cực. Hàng hóa từng bước đáp ứng tốt hơn tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Truy xuất nguồn gốc cũng được chú trọng.

Ông Sơn nhấn mạnh đây là kết quả của quá trình nâng cao chất lượng sản xuất. Việc xây dựng vùng nguyên liệu được đẩy mạnh. Liên kết chuỗi được tăng cường. Cách làm này giúp hàng Việt tiếp cận thị trường tốt hơn. Đồng thời tạo nền tảng cho xuất khẩu bền vững.

Nhân viên Thaco Chu Lai lắp ráp hệ thống điện ô tô. Nhà máy giữ nhịp sản xuất. Đơn hàng theo kế hoạch.(Ảnh: Chụp màn hình/Tuổi Trẻ)

Chiến lược xuất nhập khẩu: đa dạng hóa thị trường, tận dụng FTA

Trả lời câu hỏi về lệnh áp thuế đối ứng, ông Sơn cho biết Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp để thích nghi. Trọng tâm là thúc đẩy đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng. Cùng với đó là tăng khả năng tuân thủ quy định của thị trường nhập khẩu.

Theo ông Sơn, bên cạnh việc duy trì thị trường truyền thống, Việt Nam đẩy mạnh khai thác các thị trường đã ký kết FTA. Các thị trường được nhắc tới gồm EU, Anh, Canada, Mexico. Việt Nam cũng tận dụng các khuôn khổ như CPTPP và RCEP. Ngoài ra là các thị trường mới, thị trường tiềm năng tại Trung Đông, châu Phi, Nam Á và Mỹ Latin.

Hướng đi này được coi là chiến lược nhằm giảm rủi ro. Nhất là khi các biện pháp bảo hộ thương mại gia tăng ở một số thị trường. Việc đa dạng hóa giúp giảm phụ thuộc. Đồng thời tạo “đệm” khi một thị trường siết rào cản kỹ thuật.

Một mũi giải pháp khác là nâng năng lực tận dụng FTA và tuân thủ quy định nhập khẩu. Bộ Công Thương chú trọng hoàn thiện thể chế. Cơ quan quản lý hướng dẫn doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ. Doanh nghiệp cũng cần theo kịp tiêu chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu mới.

Ông Sơn nêu các yêu cầu về môi trường, lao động và phát triển bền vững ngày càng rõ hơn. Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng vào thị trường. Bộ cũng hỗ trợ doanh nghiệp hạn chế rủi ro bị điều tra phòng vệ thương mại. Công tác theo dõi, cảnh báo sớm và ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại được tăng cường.

Ở chiều nhập khẩu, Bộ Công Thương cũng thúc đẩy đa dạng hóa thị trường. Mục tiêu là tìm kiếm thị trường thay thế. Từ đó ứng phó rủi ro đứt gãy đầu vào. Đồng thời cân đối hài hòa cán cân thương mại với các đối tác chủ chốt. Việc chuyển dịch thị trường nhập khẩu cũng được tính toán.

Ngoài ra, bộ đẩy mạnh cải cách hành chính và tạo thuận lợi thương mại. Các giải pháp hướng tới giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh vì thế được cải thiện. Nhất là khi chi phí thương mại toàn cầu gia tăng.

Thách thức FDI và chuẩn xanh: từ “điều kiện bắt buộc” đến sức chống chịu

Xuất nhập khẩu
Số liệu kim ngạch xuất nhập khẩu và xuất siêu giai đoạn 2021–2025.
Đồ họa: TUẤN ANH.

Trước lo ngại xuất khẩu phụ thuộc khu vực FDI, ông Sơn cho rằng FDI vẫn giữ vai trò quan trọng. Nhất là trong các ngành chế biến – chế tạo và các chuỗi sản xuất toàn cầu. Đây là kết quả của quá trình hội nhập sâu rộng. Việt Nam cũng thu hút đầu tư hiệu quả. Mức tham gia vào chuỗi giá trị vì thế ngày càng sâu.

Theo ông Sơn, vấn đề không phải là giảm vai trò của FDI. Trọng tâm là nâng năng lực doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp nội cần tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng do FDI dẫn dắt. Việc này phải làm theo lộ trình. Cần cả chính sách lẫn nỗ lực nội tại của doanh nghiệp.

Bộ Công Thương đang triển khai nhiều giải pháp để tăng liên kết FDI – nội địa. Một hướng là thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ. Năng lực cung ứng trong nước cần được nâng lên. Mục tiêu là tăng tỉ lệ nội địa hóa. Giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu cũng theo đó cải thiện.

Song song, bộ chú trọng hoàn thiện chính sách. Môi trường cạnh tranh bình đẳng được nhấn mạnh. Doanh nghiệp trong nước cần nâng năng lực sản xuất. Quản trị và đổi mới công nghệ cũng là yêu cầu then chốt. Ông Sơn cho rằng FDI vừa là động lực tăng trưởng. Đồng thời là cơ hội để doanh nghiệp nội học hỏi và tham gia sâu hơn.

Ở góc nhìn dài hạn, chủ nghĩa bảo hộ được dự báo còn tăng. Các lệnh trừng phạt có xu hướng gia tăng. Tiêu chuẩn và quy chuẩn cũng ngày càng khắt khe hơn. Điều này làm tăng chi phí tuân thủ. Thời gian tiếp cận thị trường có thể dài hơn. Áp lực sẽ rõ nhất với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ông Sơn nhấn mạnh tiêu chuẩn, quy chuẩn và phát triển bền vững sẽ thành “điều kiện bắt buộc”. Các yêu cầu về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, lao động, môi trường và trách nhiệm xã hội ngày càng trở thành tiêu chí tiếp cận thị trường. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản và dài hạn. Cách làm “ăn xổi” sẽ rủi ro hơn.

Theo: Tuổi Trẻ