Kỹ sư môi trường Nguyễn Bá Hội cho biết nhiều xã nông thôn mới đã hoàn thành đường sá, cây xanh nhưng nước thải và rác vẫn tồn đọng phía sau.
- Thanh Hóa ghi nhận gần 5 hồ sơ cạnh tranh 1 chỉ tiêu giáo viên
- Thác Mây tại Thanh Hóa vượt kế hoạch doanh thu nhưng áp lực quản lý tăng
- Hải Phòng đưa 6 mỏ cát, đất đá vào kế hoạch đấu giá
Ông đi khảo sát nhiều xã xây dựng nông thôn mới. Đường chính đẹp. Cuối xóm thì khác: nước thải chảy ra ruộng, bao bì thuốc bảo vệ thực vật nằm trong cỏ, rác bị đốt cạnh nhà.
Ông không cho rằng chính quyền hay người dân thờ ơ. Nhiều nơi đã thu gom rác, trồng cây, vận động giữ vệ sinh. Nhưng môi trường vẫn được xem như một tiêu chí cần hoàn thành, không phải việc phải làm mỗi ngày.
Một tuyến đường hoa xong trong vài tuần, dễ đưa vào báo cáo. Một hệ thống xử lý nước thải cần thời gian dài, khó nhìn thấy kết quả ngay. Nguồn lực vì thế dồn vào việc dễ làm.
Nhiều xã thiếu kỹ thuật. Dân cư ở rải rác khiến chi phí xây hệ thống thoát nước rất cao. Phí vệ sinh thu được không đủ trả cho thu gom, xử lý. Cán bộ môi trường phải kiêm nhiệm việc khác.
Ông kể về một khu xử lý nước thải xây khá bài bản. Nó chỉ chạy cầm chừng, vì không có tiền vận hành. Ở một nơi khác, điểm tập kết rác đặt xa khu dân cư. Xe thu gom không chạy đúng lịch. Rác tồn đọng, rồi bị đốt.
Cách làm hiện nay dễ nhầm “sạch” với “không nhìn thấy rác”. Rác được quét khỏi đường làng, nhưng có thể bị đổ ra bãi đất trống. Nước thải được dẫn khỏi khu dân cư, nhưng chảy thẳng xuống kênh tưới. Chuồng trại được dọn, nhưng phân và nước rửa chuồng vẫn xả ra ngoài.
Chăn nuôi tăng quy mô. Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật dùng nhiều hơn. Xưởng sản xuất, cơ sở tái chế, làng nghề mọc lên xen trong khu dân cư. Hạ tầng cũ không theo kịp. Mưa lớn cuốn rác và hóa chất xuống sông hồ. Nắng nóng làm ao tù bốc mùi, sinh dịch bệnh.
Ông Hội nói cần coi môi trường nông thôn là một dịch vụ công, giống điện, đường, trường học, y tế. Đo bằng sự ổn định mỗi ngày, không phải số công trình đã khánh thành. Trước khi đầu tư, phải trả lời rõ: ai vận hành, tiền lấy từ đâu, thiết bị hỏng ai sửa, bùn thải đưa đi đâu.
Không phải xã nào cũng cần nhà máy xử lý tập trung. Khu dân cư thưa có thể dùng bể tự hoại cải tiến hoặc hồ sinh học. Khu dân cư đông thì cần hệ thống thu gom chung. Rác sinh hoạt phân loại tại nguồn chỉ có ý nghĩa khi khâu sau được tổ chức đồng bộ, không phải để xe gom lại đổ chung một chỗ.
Chất thải nông nghiệp có thể làm phân hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, hoặc xử lý bằng hầm khí sinh học, nếu đúng quy mô. Bể chứa bao bì thuốc bảo vệ thực vật ngoài đồng mới chỉ là bước đầu. Cần có lịch thu gom, đơn vị xử lý và kinh phí. Doanh nghiệp sản xuất, phân phối hóa chất cũng phải chia sẻ trách nhiệm, không thể dồn hết cho nông dân.
Ông đề nghị đánh giá bằng kết quả thực tế, không phải tỷ lệ hoàn thành. Theo dõi tần suất thu gom đúng lịch, tỷ lệ công trình còn hoạt động, chất lượng nước sau xử lý, mức độ hài lòng của người dân. Dữ liệu môi trường cấp xã hiện còn thiếu và rời rạc. Người dân cần được hỏi ý kiến trước khi công trình được xây, không phải chỉ vận động sau khi xong.
Về tiền, ông nói phí dịch vụ phải phù hợp thu nhập nông thôn, nhưng không nên miễn phí hoàn toàn. Nhà nước hỗ trợ hạ tầng ban đầu và hộ nghèo. Người dân đóng góp một phần chi phí vận hành. Cơ sở sản xuất trả tiền theo mức độ gây ô nhiễm.
Ông nói thước đo thật sự của nông thôn mới không nằm ở cổng chào hay tấm biển công nhận. Đó là người dân có dám dùng nước dưới con kênh gần nhà. Trẻ em có thể chơi cạnh ao làng. Rác có được thu gom định kỳ, không trở thành gánh nặng.
Vinh Vũ (tổng hợp)
