Sở Xây dựng và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đang cùng doanh nghiệp, chủ mỏ và chủ đầu tư tìm cách tháo gỡ khó khăn về nguồn vật liệu, giá bán và hợp đồng, qua đó hỗ trợ tiến độ các dự án đầu tư công.
- Siết quản lý đổ thải trong các dự án xây dựng
- Mưa chiều dồn dập, nước dâng sát yên xe
- Bữa ăn bán trú cần được kiểm chứng, không chỉ công khai
Sáng 4/10, hai sở phối hợp tổ chức hội nghị giải quyết các vướng mắc liên quan đến giá vật liệu xây dựng và hợp đồng thi công xây dựng tại tỉnh Thanh Hóa. Hội nghị có sự tham gia của các doanh nghiệp xây lắp, chủ mỏ khoáng sản và đại diện chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn.
Theo Sở Xây dựng Thanh Hóa, nhu cầu vật liệu phục vụ các công trình trong năm 2026 và những năm tiếp theo ở mức cao. Riêng đất san lấp ở trạng thái tự nhiên, nhu cầu năm 2026 khoảng 58,59 triệu m³, gồm 18,24 triệu m³ cho các công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước và 40,35 triệu m³ cho các công trình sử dụng vốn ngoài ngân sách.
Toàn tỉnh có 60 mỏ đất san lấp được cấp phép khai thác trong năm 2026, nhưng 20 mỏ đang tạm dừng do hết trữ lượng, dừng để phục vụ cơ quan cảnh sát điều tra hoặc chưa thuê đất. 40 mỏ đủ điều kiện hoạt động có tổng trữ lượng khoảng 56,11 triệu m³ ở trạng thái tự nhiên, công suất cung ứng khoảng 15,58 triệu m³/năm.
Bên cạnh đó, Thanh Hóa có 32 dự án thu hồi khoáng sản với tổng khối lượng khoảng 20,62 triệu m³ và 40 giấy xác nhận thu hồi khoáng sản đất san lấp của các hộ gia đình, khối lượng khoảng 1,1 triệu m³.
Tuy nhiên, hồ sơ do các đơn vị cung cấp cho thấy chỉ 10/40 mỏ đất còn thời gian hoạt động, với sản lượng còn lại từ nay đến hết năm 2026 khoảng 2,969 triệu m³ ở trạng thái tự nhiên, tương đương khoảng 3,83 triệu m³ ở trạng thái nở rời. Tính chung cả nguồn thu hồi khoáng sản, tổng công suất khai thác đất năm 2026 khoảng 37,3 triệu m³, mới đáp ứng khoảng 63,67% nhu cầu toàn tỉnh.
Nguồn đá xây dựng có khả năng đáp ứng cao hơn. Thanh Hóa hiện có 219 mỏ đá được cấp phép khai thác, trong đó 183 mỏ đủ điều kiện hoạt động năm 2026, với trữ lượng khai thác khoảng 163 triệu m³ và tổng công suất cung ứng khoảng 8,24 triệu m³/năm.
Nhu cầu đá xây dựng ở trạng thái tự nhiên năm nay khoảng 10,05 triệu m³, trong khi tổng công suất khai thác và nguồn thu hồi đạt khoảng 17,19 triệu m³, tương đương khả năng đáp ứng 171% nhu cầu. Dù vậy, công suất được cấp phép chưa đồng nghĩa toàn bộ lượng đá có thể đưa ra thị trường.
Đến nay, Sở Xây dựng mới công bố thông tin đối với 63/183 mỏ đá đang hoạt động. Tổng sản lượng còn lại đến hết năm 2026 của các mỏ này khoảng 1,182 triệu m³ ở trạng thái tự nhiên, tương đương 1,74 triệu m³ ở trạng thái nở rời.
Gỡ điểm nghẽn từ nguồn cát và giá vật liệu
Nguồn cát đang là một trong những điểm khó khăn lớn nhất đối với các dự án xây dựng trên địa bàn. Thanh Hóa có 23 mỏ cát được cấp phép khai thác, nhưng chỉ 8 mỏ đủ điều kiện hoạt động trong năm 2026, với tổng trữ lượng khoảng 5,99 triệu m³ và công suất khoảng 0,295 triệu m³/năm.

Trong khi nhu cầu cát xây dựng tự nhiên năm 2026 khoảng 8,135 triệu m³, công suất khai thác hiện mới đáp ứng khoảng 30,2%. Để bổ sung nguồn cung, tỉnh dự kiến trong quý IV/2026 cấp phép, đưa vào hoạt động 6 mỏ cát theo cơ chế, chính sách đặc thù, với công suất khai thác khoảng 2,13 triệu m³/năm.
Thanh Hóa cũng có 24 cơ sở đầu tư dây chuyền sản xuất cát nghiền, tổng công suất thiết kế khoảng 2,39 triệu m³/năm. Nếu tính cả cát nghiền, tổng công suất cát xây dựng ở trạng thái nở rời năm 2026 khoảng 5,16 triệu m³, mới đáp ứng khoảng 53,8% nhu cầu.
Nguồn cung hạn chế đã tác động đến giá vật liệu và hoạt động của các nhà thầu. Theo Công văn số 11710/SXD-KTVL ngày 24/9/2026 của Sở Xây dựng Thanh Hóa, giá đá trong tháng 9 tăng khoảng 3-7% so với tháng 8; bình quân quý III/2026 tăng khoảng 5-15% so với quý II, 20-38% so với quý I và 34-59% so với quý IV/2025, tùy loại.
Hiện giá đá 1×2 dao động 220.000-409.000 đồng/m³, đá hộc từ 150.000-327.273 đồng/m³, còn cấp phối đá dăm loại I ở mức 181.818-376.818 đồng/m³.
Tại hội nghị, ông Hán Thành Tuấn, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Tuấn Linh, cho biết doanh nghiệp đang thi công dự án đường ven biển đoạn Hoằng Thanh – Nghi Sơn và gặp khó khăn về nguồn đá. Có mỏ báo giá đá base A và base B khoảng 113.000 đồng/m³ nhưng không có hàng, trong khi một số mỏ khác báo có hàng với giá 200.000-300.000 đồng/m³, còn giá nhà thầu đã ký với chủ đầu tư chỉ 63.000 đồng/m³.
“Nhẩm tính, khi hoàn thành dự án, nhà thầu có thể lỗ khoảng 12 tỷ đồng”, ông Tuấn cho biết, đồng thời đề nghị cơ quan chức năng kiểm tra chênh lệch giá giữa các mỏ trong cùng khu vực và bảo đảm những mỏ có mức giá phù hợp thực tế phải cung cấp được vật liệu.
Ông Vũ Xuân Quý, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Thắng Anh, phản ánh tình trạng khan hiếm vật liệu và giá tăng đã được doanh nghiệp nhiều lần nêu nhưng vẫn tái diễn. Theo ông, giá vật liệu có thời điểm tăng liên tục trong thời gian ngắn, khiến doanh nghiệp xây lắp khó chủ động cân đối chi phí và cần cơ quan chức năng làm rõ mức tăng có phù hợp thực tế hay không.
Cùng vấn đề này, ông Nguyễn Duy Nở, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Tuấn, cho biết có tình trạng mỏ báo giá một mức nhưng bán với giá khác. Trong quá trình cùng chủ đầu tư và đơn vị tư vấn khảo sát 14 điểm mỏ, chỉ khoảng một nửa có đá hộc phục vụ dự án, nhưng giá lên tới 300.000 đồng/m³, trong khi nhà thầu ký với chủ đầu tư ở mức 200.000 đồng/m³.
Theo ông Nở, việc báo giá không sát thực tế, công bố giá nhưng không có hàng hoặc mỏ không còn trữ lượng vẫn công bố giá đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ. Một số công trình thậm chí phải trả lại chủ đầu tư do doanh nghiệp không cân đối được nguồn vật liệu.
Đến ngày 3/10, Sở Xây dựng Thanh Hóa đã nhận báo cáo của 110/170 đơn vị. Trong số này, 8/110 đơn vị cho biết dự án bị ảnh hưởng do giá đá tăng, dẫn đến chậm tiến độ.
Mức tăng chi phí hoặc giá trị hợp đồng thi công do biến động giá đá được các đơn vị báo cáo khoảng 4,4-50%, tùy thời điểm ký hợp đồng xây lắp. Các dự án chịu ảnh hưởng chủ yếu là công trình hạ tầng kỹ thuật và giao thông, phần lớn sử dụng hợp đồng trọn gói.
Từ thực tế trên, các doanh nghiệp xây lắp, chủ mỏ khoáng sản và đại diện chủ đầu tư tại hội nghị đề nghị nâng công suất những mỏ đủ điều kiện, giảm thủ tục hồ sơ và rút ngắn thời gian cấp phép để tăng nguồn cung cho các dự án đầu tư công.
Tháo gỡ nguồn cung, kiểm soát giá vật liệu
Ông Nguyễn Xuân Hưng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát các mỏ có khả năng nâng công suất. Với những dự án chuẩn bị đầu tư, ông cho rằng đơn vị tư vấn cần đánh giá sát chi phí vận chuyển, quãng đường từ công trường đến mỏ và trữ lượng thực tế, tránh dự toán không sát rồi phải điều chỉnh hợp đồng, ảnh hưởng tiến độ giải ngân.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa Lê Văn Tiến nhận định vấn đề hiện nay không hẳn là tỉnh thiếu tài nguyên mà đang thiếu nguồn cung cục bộ. Trong đó, đất mới đáp ứng khoảng 63-64% nhu cầu, còn cát thiếu trầm trọng.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tập trung tháo gỡ nguồn cát, đồng thời kết nối chủ mỏ với nhà thầu và chủ đầu tư để bảo đảm nguồn cung. Với những mỏ không vi phạm, đủ điều kiện nâng công suất, hồ sơ sẽ được hoàn thiện và trình UBND tỉnh xem xét cấp phép trong thời gian ngắn.
Các nhà thầu khi thiếu vật liệu được yêu cầu phản ánh trực tiếp để cơ quan chuyên môn cung cấp thông tin về những điểm mỏ có trữ lượng và công suất phù hợp. Trường hợp mỏ còn trữ lượng nhưng không khai thác, công bố giá hoặc có dấu hiệu chênh lệch bất thường về giá, cơ quan chức năng sẽ kiểm tra, lập biên bản và khi cần thiết chuyển cơ quan công an xem xét, xử lý theo quy định.
“Các chủ mỏ khoáng sản cần phải đồng hành với nhà thầu thi công dự án đầu tư công, góp phần hoàn thành giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn”, ông Tiến nhấn mạnh.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hoá đồng thời đề nghị doanh nghiệp, gồm chủ mỏ và đơn vị xây lắp, tối ưu hóa các khâu trung gian để giảm chi phí. Nhà thầu được khuyến nghị làm việc trực tiếp với chủ mỏ nhằm chủ động nguồn cung và kiểm soát giá.
Ông Hoàng Văn Đồng, Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hóa, cho biết Sở sẽ tiếp nhận phản ánh về các trường hợp mỏ công bố giá nhưng không có hàng, bán không đúng giá công bố hoặc có mức giá chênh lệch bất thường giữa những mỏ trong cùng khu vực.
“Những ý kiến phản ánh về cùng khu vực mỏ mà giá bán khác nhau, chúng tôi sẽ kiểm tra đột xuất để có phương án xử lý. Các chủ mỏ phải công bố trung thực về giá. Nếu phát hiện sai phạm, chúng tôi sẽ lập danh sách để công khai vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng”, ông Đồng khẳng định.
Bên cạnh nguồn cung và giá vật liệu, hội nghị cũng đặt vấn đề xử lý các hợp đồng xây dựng chịu tác động bởi biến động giá. Theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng, với hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định, việc điều chỉnh đơn giá khi vật liệu biến động mạnh chỉ thực hiện trong những trường hợp được pháp luật và hợp đồng quy định, trong đó có trường hợp bất khả kháng và hoàn cảnh cơ bản thay đổi.
Thẩm quyền điều chỉnh hợp đồng khi giá xăng dầu, vật liệu xây dựng biến động thuộc chủ đầu tư. Chủ đầu tư phải đối chiếu quy định của hợp đồng và pháp luật để xem xét, quyết định, bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí, đồng thời hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro giữa các bên.
Với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, các nhà thầu được yêu cầu tập trung máy móc, thiết bị và nhân lực để đẩy nhanh thi công trong những tháng còn lại của năm 2026. Hồ sơ điều chỉnh giá cũng cần được khẩn trương hoàn thiện, trình thẩm định, phê duyệt và thanh toán kịp thời đối với khối lượng hoàn thành, đủ điều kiện thanh toán.
Việc bổ sung nguồn cát, nâng công suất các mỏ đủ điều kiện, kiểm soát công bố và bán vật liệu, đồng thời tháo gỡ cơ chế điều chỉnh hợp đồng đang được các ngành chức năng Thanh Hóa triển khai song song. Mục tiêu là từng bước xử lý nguồn cung, hạn chế biến động chi phí và giữ tiến độ các dự án đầu tư công trong những tháng cuối năm 2026.
Minh Tâm (tổng hợp)
