Tháng 8-1971, miền Bắc Việt Nam hứng chịu trận lũ lịch sử lớn nhất trong vòng 250 năm. Cơ quan Quản trị Hải dương và Khí tượng Mỹ xếp “đại hồng thủy 1971” ở Việt Nam là một trong những thảm họa thiên tai nghiêm trọng nhất thế kỷ 20, gây tổn thất chưa từng có.
- Vùng cô lập và cuộc sống của 1.700 người
- Tháng 10 lập 34 kỷ lục mưa, Bạch Mã ghi nhận lượng mưa lớn thứ hai thế giới
- Mùa thu, mùa cưới và câu chuyện nhân văn từ người con gái xứ Thanh
“Đại hồng thủy” 1971 – Ký ức kinh hoàng trên đê Hữu Hồng
Ông Chu Hồng Thao, 80 tuổi, sống tại thôn Vân Nga (khu vực Thường Tín, Hà Nội), vẫn nhớ rõ ký ức năm ấy. Ngôi làng của ông nằm sát đê Hữu Hồng, chỉ cách bãi tắm nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung vài trăm mét.
Tháng 8 năm đó, nước sông Hồng dâng gần chạm mặt đê. Cả làng phải dựng lều tránh lũ. Thanh niên vào chiến trường, làng chỉ còn người già và trẻ nhỏ. Dân quân toàn nữ gùi đất, đeo súng CKC để gia cố đê.
Ông Thao lúc ấy là nhân viên giao thông của Bộ Giao thông vận tải, vừa từ Quảng Bình trở ra công tác ở Phú Thọ. Trong kỳ nghỉ phép ngắn ngày tại quê, ông nhận lệnh điều động lên cầu Phùng (Sơn Tây) và Việt Trì để đảm bảo giao thông.
Ông kể, khi nghe tin phải dùng tàu hỏa 300 tấn chặn cầu ở Bắc Giang để chống lũ cuốn, ông nhớ lại cảnh năm 1971: cả đoàn tàu chở đá hộc được đặt lên cầu Long Biên để cứu nguy. Ở quê, dân Thường Tín gánh đất đắp đê, mang gạo, muối, đồ dùng lên đê lánh nạn. “Chưa bao giờ nước sông Hồng cao như vậy. Đứng trên đê, thò chân xuống đã chạm nước”, ông nói.
Những tiếng kêu cứu giữa biển nước đỏ
Khi lũ đạt đỉnh, các địa phương Lâm Thao, Vĩnh Tường, Gia Lâm lần lượt vỡ đê. Tin báo liên tiếp truyền qua radio. Dân tháo mái nhà làm lán trú trên đê. Cảnh tượng hỗn loạn, tang thương phủ khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Ông Thao vẫn nhớ tiếng kêu cứu giữa đêm đen. Khi tới cầu Việt Trì, nước đã ngập mênh mông. Cơ man nào là nhà cửa, cây cối, gỗ trôi lẫn trong bọt nước. Nhiều ngôi nhà có người đang bám nóc chới với giữa dòng. “Nước đập ầm ầm vào mố cầu, cuốn phăng mọi thứ”, ông kể.
Nhiều vùng Hà Tây, Hà Đông, Hà Nam cũ bị ngập sâu. Người dân mất hết tài sản, chỉ còn hy vọng bấu víu vào thân đê. Cơ quan cứu hộ phải huy động xuồng, thuyền và sà lan để cứu người suốt ngày đêm.
Thiệt hại nặng nề nhất trong thế kỷ 20

Theo báo cáo của CIA ngày 8-9-1971, ảnh vệ tinh cho thấy Hà Nội, Phủ Lý, Nam Định, Hưng Yên “ngập sâu trong nước đỏ phù sa”. Thiệt hại vượt xa trận lũ năm 1945 và tương đương trận lũ sông Dương Tử (Trung Quốc) năm 1954.
Tổng cục Khí tượng Thủy văn ghi nhận, lượng mưa tại Bắc Bộ năm đó đạt từ 500 đến hơn 1.000mm chỉ trong vài ngày. Mực nước sông Hồng tại Long Biên lên tới 14,13m, cao hơn thiết kế an toàn của đê 0,5m.
Đê hữu Hồng đoạn Thanh Trì – Phú Xuyên – Chương Mỹ bị uy hiếp nghiêm trọng. Nhiều đoạn đê chỉ chịu được đến 13,6m, khiến toàn hệ thống đứng trước nguy cơ sụp đổ. Nước lũ kéo dài hơn tám ngày, vượt xa khả năng chống đỡ.
“Đánh chìm sà lan cứu đê” – giải pháp cuối cùng
Theo bà Lê Bích Thủy, Trưởng phòng Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai – Viện Quy hoạch Thủy lợi, trận “đại hồng thủy 1971” là lần cuối cùng Việt Nam phải mở phân lũ sông Hồng sang sông Đáy và sông Bùi.
Để cứu đê Thanh Trì, Bộ Thủy lợi khi ấy huy động hàng trăm sà lan chở đất đá. Có nơi phải đánh chìm 11 sà lan chở rọ đá để vá đoạn đê bị vỡ. Đây là biện pháp chưa từng có tiền lệ.
Hàng triệu người dân buộc phải sơ tán. Nhiều vùng trũng như Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên gần như biến mất dưới lớp nước đỏ phù sa. Cơ quan Quản trị Hải dương và Khí tượng Mỹ xếp thảm họa 1971 chỉ đứng sau trận lũ sông Dương Tử năm 1931.
“Đại hồng thủy” 1971 – Bài học cho hiện tại và tương lai
Từ sau năm 1971, sông Hồng chưa ghi nhận thêm trận lũ nào gây tàn phá tương tự. Tuy nhiên, theo bà Thủy, biến đổi khí hậu đang khiến nguy cơ mưa lũ cực đoan gia tăng. Khi quy hoạch đô thị hai bên sông Hồng, cần tính toán kỹ hành lang thoát lũ và vùng phân lũ.
Nếu chủ quan, lịch sử có thể lặp lại. “Đại hồng thủy 1971” không chỉ là ký ức tang thương, mà còn là lời cảnh báo mạnh mẽ về giới hạn của con người trước thiên nhiên.
Theo: Tuổi Trẻ
