Cuối năm, về thôn Đông Hoàng, xã Trường Văn (Thanh Hóa) là nghe tiếng kim cước lách cách. Làng nón lá Trường Giang hơn 200 năm vẫn đỏ lửa nghề. Thu nhập không cao. Nhưng nghề nuôi sinh kế nông thôn. Nay, người làng xoay xở nguyên liệu, thời tiết, đầu ra để giữ nghề.
- Đào phai Xuân Du tất bật tuốt lá, chuẩn bị vụ Tết ở “thủ phủ” xứ Thanh
- Chủ động nguồn cung nông sản cho cao điểm cuối năm tại Thanh Hóa
- Dự báo thời tiết 10/1/2026: Rét lan rộng cả nước, Nam Bộ bước vào đợt lạnh bất thường
Làng nón lá Trường Giang xưa: nghề theo chân người mở đất
Tôi hay đi qua Đông Hoàng mỗi sớm. Ngõ nhỏ yên. Mà tay người thì không yên. Bên hiên, các bà, các cô ngồi quây quanh khung nón. Lá trắng mỏng. Kim cước xuyên đều. Mỗi mái nhà là một “xưởng” thủ công.
Ông Lê Văn Lương, 65 tuổi, được xem là hậu duệ đời thứ bảy của ông tổ nghề. Ông kể chậm rãi về hành trình của làng. “Ông tổ nghề là người họ Lê Văn, quê ở Thạch Hà (Hà Tĩnh). Vào thế kỷ XVIII, ông cùng hai người em di cư đến vùng này lập nghiệp. Đất trũng, nhiễm mặn, làm ruộng khó khăn, nhưng người dân cần cù, lại có nguồn lá dồi dào nên ông đã truyền nghề làm nón để bà con có kế sinh nhai”, ông Lương nói.
Từ đó, nghề đan nón bén rễ. Nón mộc mạc mà bền. Đẹp và tinh xảo. Theo chân người dân đi khắp nơi mưu sinh. Cũng theo cách ấy, nghề lan ra. Người đi xa mang nghề theo. Người mới đến học nghề. Dòng nghề nối mãi. Ông Lương nhớ một câu như rút từ ruột gan: “Ngày trước, đói mấy thì đói, nhà nào có đôi bàn tay khéo đan nón là vẫn có cái ăn”. Cái ăn ấy là miếng cơm. Mà cũng là lòng tự trọng. Là ý chí bám đất.

(Ảnh: Chụp màn hình/ Người Đưa Tin)

Làng nón lá Trường Giang nay: mỗi chiếc nón là hàng chục công đoạn
Nhiều người nhìn nón lá, tưởng đơn giản. Nhưng người làm nghề nhìn là biết công. Để ra một chiếc nón, phải chọn lá. Phơi sương nắng. Sấy. Là phẳng. Làm vành. Xếp lá. Rồi khâu từng mũi chỉ nhỏ.
Một thợ lành nghề mỗi ngày chỉ làm được 3–5 chiếc. Nhịp kim đều. Mắt phải tinh. Tay phải bền. Cái khó là giữ cho nón tròn. Lá phẳng. Mũi khâu thẳng. Không lộ chỉ. Không xô vành.
Bà Nguyễn Thị Chất 85 tuổi vẫn ngồi bên khung nón. Bà làm dâu Trường Giang từ năm 18 tuổi. Bà học nghề từ mẹ chồng. “Ban đầu chỉ khâu những vành to, rồi dần đến vành nhỏ. Khi tự tay làm được một chiếc nón hoàn chỉnh mới coi là biết nghề”, bà kể. Tôi nghe câu ấy mà thấy ấm. Nghề truyền bằng kiên nhẫn. Không vội vàng. Không “đốt cháy” giai đoạn. Mẹ truyền cho con. Bà truyền cho cháu. Như một nếp nhà.

(Ảnh: Chụp màn hình/ Người Đưa Tin)

Áp lực thị trường: nguyên liệu tăng, lãi mỏng, người trẻ rời nghề
Nhưng thời hiện đại không “nương” tay. Bà Ngô Thị Toan, 51 tuổi, hơn 30 năm gắn nghề, nói hộ làm nón nay chỉ còn vài chục. Không còn “nhà nhà làm nón” như trước.
Bà Toan tính rất rõ. “Lá phải nhập từ Campuchia, giá đã 60.000 đồng/kg. Cộng thêm chỉ, vành, công làm, mỗi chiếc nón chỉ lãi chừng 17.000–20.000 đồng”, bà nói. Giá nguyên liệu tăng. Đầu ra bấp bênh. Nhiều người đành rời nghề.
Bà Lê Thị Minh, 52 tuổi, thở dài: “Thanh niên đi làm công ty hết rồi. Ở lại làm nón chủ yếu là người lớn tuổi. Có máy may khâu nón nhanh hơn, nhưng nón khâu tay vẫn đẹp, vẫn bền và được chuộng hơn.” Lời bà Minh nghe vừa tự hào. Vừa chát chúa.
Nghề còn phụ thuộc thời tiết. Mỗi năm, từ tháng 7 trở đi, trời nồm ẩm kéo dài. Lá khó khô. Nón làm ra khó bán. “Đến mùa mưa là cả làng gần như nghỉ, nón chất đống, vốn đọng lại,” bà Minh nói. Giá bán buôn mỗi chiếc nón chỉ từ 25.000 đến 60.000 đồng. So với công bỏ ra, đó là mức thấp. Nghề xưa vì thế được “giữ hồn” bằng những bàn tay gầy. Và những đứa trẻ phụ giúp sau giờ học.


Giữ nghề là giữ nếp người: làng tìm đường sống trong hôm nay
Dẫu vậy, người làng vẫn chưa buông. Bà Toan nói thẳng: “Chúng tôi chỉ mong có vốn vay ưu đãi, có đầu ra ổn định thì nghề này vẫn sống được”. Câu mong ấy rất đời. Và rất thật.
Theo đại diện UBND xã Trường Văn, địa phương có hơn 1.000 hộ làm nón. Khoảng 2.000 lao động tham gia. Mỗi năm, làng nghề đưa ra thị trường hơn 1,5 triệu sản phẩm. Nghề đóng góp khoảng 20% tổng thu nhập toàn xã. Và giải quyết việc làm cho hơn 40% lao động nông thôn.
Nón lá Trường Giang đã được công nhận là làng nghề truyền thống (2014). Làng lọt top 100 thương hiệu nổi tiếng cả nước (2015). Và được bảo hộ nhãn hiệu tập thể (2016). Những mốc ấy là sự ghi nhận cho một nghề âm thầm. Trước nguy cơ mai một, Hiệp hội sản xuất nón lá Trường Giang đang tìm cách “sống còn”. Họ nâng chất lượng. Cải tiến mẫu mã. Liên kết với du lịch làng nghề. Hướng tới sản phẩm OCOP. Và mở lớp đào tạo để giữ tay nghề.
Với tôi, giữ nghề không chỉ là giữ một sản phẩm. Đó là giữ đạo đức lao động. Giữ nếp sống nhẫn nại. Giữ sự tử tế trong từng mũi kim. Giữa thời hiện đại, chiếc nón lá nhắc ta nhớ một điều. Có những giá trị không đo bằng lợi nhuận. Mà đo bằng cách con người nương tựa nhau. Và cùng nhau gìn giữ một phần hồn quê xứ Thanh.
Theo: Người Đưa Tin và tác giả
