Danh tướng xứ Thanh Lê Văn An: “Khai quốc bình Ngô’, giỏi binh trọng lễ

Xét tài võ nghệ binh lược, tướng Lê Văn An khiến giặc phương Bắc khiếp đảm. Về ứng xử thường nhật, ông điềm đạm giản dị, giữ lễ nghĩa, được giới sỹ phu cả nước lúc bấy giờ quý trọng.

Cha con đồng lòng, gia nhập Lam Sơn thủa đầu tụ nghĩa

Theo sử ghi, Lê Văn An (1384-1437) là công thần khai quốc nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, người làng Mục Sơn, sau này là xã Xuân Bái huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.  

Lê Văn An đến tụ nghĩa tại Lam Sơn ngày 25 tháng 5 năm Ất Mùi (1415), trước Hội thề Lũng Nhai 1 năm, trước ngày khởi nghĩa 3 năm, khi đó ông tầm 30 tuổi. Sách Đại Việt Thông sử (Chư thần truyện) chép: “Lê Văn An người sách Mục Sơn, theo vua Thái Tổ dấy binh, được trao chức Thứ Thủ vệ kỵ binh trong quân Thiết Đột. Khi Nhà vua cùng với 18 người bề tôi thân cận tổ chức hội thề thì tên ông đứng ở hàng thứ ba. Trải hơn một trăm trận lớn nhỏ, khi tấn công cũng như khi phòng thủ, ông đều có nhiều công lao”.

Khi Lê Văn An đến Lam Sơn, con trai ông là Lê Biếm cũng đã là một thanh niên khỏe mạnh, được Lê Lợi thu nhận, cho tham gia lực lượng nghĩa binh của Lam Sơn. Như vậy, cả hai cha con ông đều là những người xung phong gia nhập Lam Sơn thuở đầu tụ nghĩa.

Qua các sử liệu, ban đầu gia nhập nghĩa quân, Lê Văn An nổi bật trong vai trò một dũng tướng với tài võ nghệ nổi bật. Cụ thể, cuối năm 1424, từ kế hoạch xuất sắc của Nguyễn Chích, quân Lam Sơn đã ồ ạt tấn công vào Nghệ An. Tại Nghệ An, một trong những trận đánh quan trọng nhất của nghĩa quân Lam Sơn chính là trận Khả Lưu. Chính tướng Lê Văn An đã được cử tham gia chỉ huy trận đánh quan trọng này. 

Theo sách sử,  trong trận này, quân Lam Sơn thắng lợi vang dội, đã bắt sống được tướng giặc Chu Kiệt, chém chết tướng Hoàng Thành. Đây là trận được Lam Sơn thực lục mô tả khá tỉ mỉ. Trong trận này, Lê Văn An vừa là tướng chỉ huy, cũng là người đã lập công lớn, “Ông xông lên trước, hãm thế trận của giặc và đánh lui chúng (Đại Việt thông sử, Chư phần truyện).

Sau thắng lợi ở trận Khả Lưu, Lê Lợi cho quân vây hãm thành Nghệ An. Lê Lợi cũng cử ông và các tướng Lê Ngân, Lý Triện và Lê Bôi lãnh hơn 70 chiến thuyền, tiến gấp theo để tiếp ứng đánh vào vùng Tân Bình và Thuận Hóa. Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ vùng Tân Bình và Thuận Hóa đã được giải phóng. 

Trong chiến công chung rất vang dội này, Lê Văn An là một trong những tướng lĩnh có công lớn. 

Ít lâu sau, hai tướng Minh là Lý An, Phương Chính bỏ thành Nghệ An, vượt biển ra cứu Trần Trí ở Đông Quan, giao lại thành cho Thái Phúc. Lê Lợi bèn mang quân đánh Tây Đô (Thanh Hoá), để Lê Văn An ở lại, toàn quyền chỉ huy vây thành Nghệ An. 

Lê Văn An siết chặt vòng vây, thẳng tay trừng trị những kẻ ngoan cố, cả gan dám đánh lén vào hàng ngũ của ông, đồng thời, liên tiếp kêu gọi giặc đầu hàng. Sau đó, Lê Văn An cùng các tướng Lưu Nhân Trú, Lê Sát, Lê Lý, Lê Khôi đồng loạt tấn công giặc, chém đầu hơn 5 vạn tên. Trước tình thế ngày một bức bách, tướng chỉ huy cao cấp của giặc trong thành Nghệ An là Thái Phúc đã xin đầu hàng. Lê Văn An nhận hàng rồi dẫn quân ra Đông Quan.

Lập công lớn ở trận Xương Giang (1427)

Khi Lê Văn An tiến ra Đông Quan, vừa lúc quân Lam Sơn đã thắng trận quyết chiến chiến lược vang dội ở Tốt Động – Chúc Động. Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn đã quyết định đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng với quân Minh ở Chi Lăng – Xương Giang. Đại bộ phận lực lượng tinh nhuệ nhất của Lam Sơn đã được điều động vào trận đánh lịch sử này. Ngoài ra, một bộ phận khác đã được điều lên ải Lê Hoa để đánh chặn đạo quân của Mộc Thạnh, và một bộ phận khác nữa cũng được bố trí ở lại để tiếp tục bao vây, tiếp tục dụ hàng thành Đông Quan.

Lê Văn An cùng với tướng Nguyễn Lý đem 3 vạn quân tiếp ứng cho các tướng sĩ Lam Sơn ở trận Chi lăng – Xương Giang. Ông là một trong những tướng đã lập công to lớn trong trận tập kích vào Xương Giang (tháng 11 năm 1427). Sử cũ chép:

“Vua lại sai ông cùng Lê Lý (tức Nguyễn Lý) đem 3 vạn quân lên hỗ trợ cho tướng Lê Sát làm thế ỷ giốc. Ông liên tục đánh phá quân của Thôi Tụ và Hoàng Phúc, vây hãm chúng ở Xương Giang. Kế đến, ông cùng các tướng hợp sức đánh phá giặc, bắt sống được Thôi Tụ và Hoàng Phúc cùng 3 vạn quân địch. Thiên hạ từ đó đại định” (Đại Việt thông sử, Chư thần truyện).

Nhờ công lao to lớn, năm 1427, Lê Văn An được vua Lê Lợi phong làm Thiếu bảo tổng quản trông coi các việc quân ở Quốc Oai thượng, Quốc Oai trung, Tam Đái và Quảng Oai. Vua còn cho phép Lê Văn An ”Nếu có viên chấp lệnh, hay giám quan nào không theo tiết chế của ngươi thì được quyền chém trước tâu sau”.

Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi vua, Lê Văn An được phong làm: Nhập nội thiếu úy, Tư Mã, hàm Suy trung Bảo chính công thần, tham dự triều chính.

Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), nhà Lê dựng biển khắc tên công thần, Lê Văn An cũng có tên ở trong số đó. Cũng năm này, ông được ban tước Đình Hầu.

Năm Thuận Thiên thứ 5 (1432) ông được gia hàm Tán Trị Hiệp Mưu Công thần, Nhập nội Kiểm hiệu Tư không, Bình Chương Quân Quốc Trọng sự.

Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), dưới triều vua Lê Thái Tông, Lê Văn An được cử làm Nhập nội Đại Tư mã, Đô Đốc Đồng Tổng quản Bắc Đạo.

Sau này, đến đời vua Lê Thánh Tông xét lại công lao các vị đại thần thời Thái Tổ, Lê Văn An được gia phong Khắc Quốc Công.

Tướng giặc Thái Phúc quy hàng tướng Lê Văn An trong trận vây thành Nghệ An của nghĩa quân Lam Sơn. (Ảnh minh họa: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Dẹp nội loạn, được sĩ phu yêu mến

Ngoài công lao về mặt quân sự, Lê Văn An còn có đóng góp lớn trong việc giữ yên vấn đề chính sự thủa đầu nhà Lê Sơn.

Sử chép, tháng 2 năm 1434 đời Lê Thái Tông, ông được cử làm tư mã Bắc đạo. Có viên trấn quản Lạng Sơn là Hoàng Nguyên Ý vốn là phụ đạo Lạng Sơn thời Minh thuộc, sau quy thuận quân Lam Sơn, được Lê Thái Tổ phong làm thượng tướng, vẫn cho giữ Lạng Sơn. Nhưng sau này triều đình vỗ về không khéo nên Hoàng Nguyên Ý mang lòng oán giận.

Gặp lúc Hoàng Nguyên Ý vào kinh triều kiến thì con cả Thái Tổ, anh Thái Tông là quận vương Lê Tư Tề có người vợ lẽ, nhân có lỗi bị đuổi đi. Hoàng Nguyên Ý nhân gặp người vợ lẽ của Tư Tề có bụng thích nên mang giấu về Lạng Sơn. Về đến Lạng Sơn, Ý khởi binh chống triều đình.

Lê Thái Tông liền sai Lê Văn An mang quân đi đánh. Ông mang quân tới thì Nguyên Ý sợ, vội bỏ vợ con chạy sang đất nhà Minh. Ông bèn sai lùng bắt thân thuộc, nô tỳ, gia súc của mấy người làm phản cùng trấn binh địa phương hơn 1000 người mang về dâng nộ.

Vua Thái Tông hạ lệnh tha hết dân thường, chỉ có gia thuộc những người làm phản bị sung làm nô tỳ của các quan. Lê Văn An có công được phong làm nhập nội đại tư mã, đô đốc đồng tổng quản Bắc đạo. 

So với các tướng lĩnh thời Lê Sơ, Lê Văn An được ca ngợi là người hoà nhã, giản dị, hay lấy lễ tiếp đãi các bậc sĩ đại phu. Vì vậy, ông được nhiều sĩ phu đương thời yêu mến, kính trọng.

Năm 1437, Lê Văn An vâng lệnh vua Lê Thái tông vào lại xứ Thanh nhận chức Hải Tây đô đốc, Đồng tổng quản, Phù lỗi trấn quốc đại tướng quân. Đáng tiếc, trên đường đi nhận chức ông đột ngột qua đời.

Theo các nhà viết sử, gia đình tướng Lê Văn An đã hết lòng tận vì xã tắc, triều đình, lập nhiều công lớn. Các con trai của ông theo gương cha, cũng lập được nhiều chiến công. Người con cả là Lê Biếm, công thần hạng hai Lũng Nhai, sau này tử trận, được phong vị trung lương đại phu, tả phụng thần vệ tướng quân tước đại trí tự.

Con trai thứ hai là Lê Văn Yến, làm quận công phụng lĩnh hầu.

Con gái là Lê Thị Ngọc Khiết, vợ của tướng Bùi Bị, tử trận năm Giáp Thân (1424), được truy tặng Mậu trung hầu, Mậu quận công. Như vậy gia đình ông có cả trai, gái, dâu, rể đều tham gia kháng chiến, cháu chắt là công hầu, khanh tướng.

Sau này hậu thế lưu lại những câu đối thờ gia đình tướng Lê Văn An như để tưởng nhớ đến công lao của tiền nhân:” Kiếm cung gia quyến cựu Uyển cổn quốc an trường”

Hay: “Khai quốc bình Ngô quang vạn đại / Chiêu dân bồi tượng trạch di thâm”

Sau khi mất, đền thờ Khắc Quốc công Lê Văn An được lập dựng ở sách Mục Sơn. Đến thời Lê Trung hưng, hậu duệ của ông dời đền thờ về làng Diên Hào thuộc xã Thọ Lâm (Thọ Xuân). Dưới thời vua Lê Hiển tông, Lê Văn An được sắc phong Thượng đẳng phúc thần, người dân tôn kính phụng thờ. 

Theo các tài liệu lưu giữ tại địa phương, đền thờ Khắc Quốc công Lê Văn An khi xưa kết cấu theo hình chữ “Đinh”, quy mô bề thế, chắc chắn, các mảng chạm khắc gỗ tinh xảo. Đáng tiếc, năm 1972, ngôi đền bị máy bay Mỹ ném bom, đổ sập hoàn toàn. Đến nay, ngôi đền đã được người dân phục dựng để thờ phụng tưởng nhớ đến một vị tướng tài có công với dân tộc.