Mùa nước nổi từng mang lại no ấm cho người dân miền Tây, nay lại khiến họ thêm lo lắng. Lũ vẫn về, nhưng phù sa cạn, cá tôm ít, ruộng đồng bạc màu. Sau hơn một thập kỷ “lũ nghèo”, nhiều người rời quê, còn lại chỉ những mái nhà bám trụ giữa đồng sâu.
- Bạo lực học đường ở lứa tuổi dậy thì: Hồi chuông cảnh báo từ những hành vi bốc đồng
- Đảo Đài Loan sơ tán hàng ngàn người trước khi bão “Fung-Wong” đổ bộ
- Trần tình của tài xế xe ôm liên quan vụ nữ sinh ‘tố’ bị sàm sỡ ở bến xe Mỹ Đình
Ký ức một thời sống chung với lũ

Trên cánh đồng xã Nhơn Hòa Lập (huyện Tân Thạnh, Long An cũ), ông Nguyễn Văn Dũng, 52 tuổi, đứng lặng nhìn mặt nước loang ánh nắng chiều. Gia đình ông là một trong số ít hộ còn giữ thói quen “xả đồng đón lũ” giữa những cánh đồng đã đắp đê kín.
Ông kể, xưa lũ tràn đồng, ngập mái nhà nhưng dân vẫn sống khỏe. Cá linh, cá rô, rau đồng như bông súng, điên điển đầy nước. Cả làng đi lại bằng xuồng, trẻ con học bơi trước khi biết đi.
Khi nước rút, ruộng được “tắm” phù sa, đất nghỉ, sâu bệnh giảm. Lúa mùa năm sau trúng lớn. “Lũ khi ấy nuôi sống dân mình, chứ không làm khổ ai,” ông Dũng nói, mắt nhìn xa giữa đồng ngập nước.
Những năm ấy, miền Tây có mùa lũ đẹp như một nhịp sống. Người dân biết ơn con nước vì mang lại tôm cá, phù sa, rau đồng. Lũ về là niềm vui, là lời hứa của mùa bội thu.
Khi con nước không còn ngọt

Mười năm trở lại đây, lũ vẫn về nhưng chẳng còn mang lợi ích. Phù sa loãng, cá tôm thưa, đất nứt nẻ. Ông Dũng giờ chỉ còn hơn một hecta ruộng, trồng thêm mít, nuôi bò để sống. “Từ con cá đến mớ rau, nay cũng phải mua,” ông nói, giọng trầm buồn.
Cách đó hơn trăm cây số, anh Trần Vũ Linh, 34 tuổi, cùng em trai đặt hơn 100 chiếc lú ở xã Bình Thạnh (Đồng Tháp). Sau nửa ngày, họ chỉ được vài con chạch nhỏ. “Hồi trước đặt 150 lú, mỗi ngày có vài chục ký cá. Giờ giảm gấp mười,” Linh kể.
Cha anh, ông Sáu Thạnh, ba đời làm nghề sông nước, nay tính bỏ nghề. “Sông hết cá, chỉ còn nước,” ông buồn rầu. Nhiều bạn nghề của ông đã bỏ xứ, lên Bình Dương, Long An tìm việc.
Đồng bằng kiệt sức vì mất phù sa

Theo chuyên gia sinh thái Nguyễn Hữu Thiện, Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên từng là hai “bể chứa nước” tự nhiên của đồng bằng. Mỗi năm, chúng có thể trữ tới 10 tỷ m³ nước lũ, giúp điều hòa mặn – ngọt và bồi đắp phù sa.
Ba mươi năm qua, hệ thống đê bao khép kín phục vụ lúa vụ ba khiến khả năng trữ nước giảm một nửa. “Đồng bằng bây giờ như người bị cao huyết áp, mất mạch máu,” ông Thiện ví von.
Nước thượng nguồn không có nơi dừng, triều biển dâng, dòng chảy bị bó hẹp. Phù sa không còn về đồng, sông “đói đất”, sạt lở tăng nhanh. Hàng nghìn hecta lúa, hoa màu ở Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long bị thiệt hại.
Lũ không còn là “mùa vàng” mà trở thành nỗi lo. Ở nhiều nơi, nhà dân phải gia cố mỗi năm. đê tạm chắp vá, ruộng đồng khô nứt vì đất chai. Con nước từng làm nên bản sắc miền Tây, nay lại khiến người dân thêm khốn khó.
Nỗi lo sinh kế và hành trình đi tìm hy vọng

Không chỉ mất mùa, người dân còn mất nghề. Nhiều gia đình bỏ ruộng, lên thành phố tìm việc, để lại những cánh đồng hoang. Người ở lại chuyển sang chăn nuôi, trồng cây ngắn ngày, nhưng thu nhập bấp bênh.
Theo các chuyên gia, nếu không khôi phục vùng trữ lũ tự nhiên, đồng bằng sẽ mất dần khả năng tự cân bằng. Lũ thấp khiến nước ngầm cạn, xâm nhập mặn tăng, mùa khô khắc nghiệt hơn.
Chính quyền các địa phương đang triển khai mô hình “thuận thiên” – sống hài hòa với nước. Một số vùng thử nghiệm trồng lúa mùa kết hợp nuôi cá đồng, trồng sen, rau nước cho hiệu quả khá.
“Chúng tôi chỉ mong có lại một mùa lũ thật sự, để đất thở, cá về, người vui,” ông Dũng nói. Giữa vòng xoáy “lũ nghèo”, niềm tin của người miền Tây vẫn chưa tắt. Họ chờ con nước hồi sinh – không chỉ để gieo trồng, mà để giữ lấy linh hồn vùng đất này.
Theo: Khai Mở
