Trần Xuân Soạn- Vị tướng tận trung suốt đời với sự nghiệp Cần Vương

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, Trần Xuân Soạn hiện lên như một biểu tượng của lòng kiên trung, bất khuất và tinh thần hy sinh vì đại nghĩa. Là một vị tướng xuất thân từ tầng lớp lao động, bằng tài năng và ý chí, ông đã vươn lên trở thành một trong những thủ lĩnh chủ chốt của phong trào Cần Vương, để lại dấu ấn đậm nét từ kinh thành Huế đến các chiến khu tại quê hương Thanh Hóa.

Từ người lính thay thân đến vị thống soái quả cảm của phái chủ chiến

Trần Xuân Soạn sinh năm 1849 tại làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa,,. Ông lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo khó, nhưng sớm bộc lộ tư chất thông minh, sức khỏe dũng mãnh và đặc biệt là sự say mê với võ nghệ, nhất là côn quyền,. Cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu bằng một quyết định đầy hy sinh: Năm 18 tuổi, ông tự nguyện đi lính thay cho con của một phú hào trong làng để lấy tiền giúp đỡ gia đình vượt qua cảnh túng quẫn.

Trong môi trường quân ngũ, Trần Xuân Soạn nhanh chóng khẳng định được tài mưu lược và sự dũng cảm của mình qua các chiến công tiễu phỉ ở vùng đất Bắc,. Nhờ sự mẫn cán và khả năng chỉ huy xuất sắc, ông liên tục được thăng chức từ Suất đội lên Lãnh binh, rồi Phó đề đốc Bắc Ninh,. Sau đó, ông được triệu về kinh thành Huế, phong chức Vệ úy chỉ huy quân ở kinh đô, và đến năm 1883 thì thăng tới chức Chưởng vệ Đề đốc kinh thành.

Giai đoạn này, triều đình nhà Nguyễn đang phân hóa sâu sắc giữa phái chủ hòa và phái chủ chiến. Với tinh thần yêu nước nhiệt thành, Trần Xuân Soạn đã đứng hẳn về phía phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo,. Ông được Tôn Thất Thuyết hết sức tin cậy và giao trọng trách chỉ huy đội “Phấn nghĩa quân” – một lực lượng nòng cốt bao gồm những người dân có tinh thần chiến đấu chống Pháp được tuyển chọn và luyện tập kỹ lưỡng.

Dấu ấn lịch sử lớn nhất của ông tại Huế chính là trận tấn công quân Pháp vào đêm mùng 4 rạng sáng mùng 5 tháng 7 năm 1885,. Trần Xuân Soạn cùng Tôn Thất Thuyết trực tiếp chỉ huy một đạo quân đánh úp trấn Bình Đài (đồn Mang Cá). Dù cuộc tấn công ban đầu gây cho địch nhiều lúng túng, nhưng với hỏa lực vượt trội, quân Pháp đã phản công mạnh mẽ khiến quân nhà Nguyễn tan vỡ. Trước tình thế đó, Trần Xuân Soạn đã cùng các cộng sự hộ giá vua Hàm Nghi rời bỏ kinh thành, chạy ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị) và sau đó là Hà Tĩnh,,. Sự kiên quyết không hợp tác với giặc của ông khiến người Pháp và triều đình bù nhìn thân Pháp lo ngại đến mức treo giải thưởng 600 lạng bạc cho ai bắt sống được ông và 300 lạng nếu chém chết.

Trấn Bình Đài (còn gọi là Đồn Mang Cá), nằm ở phía Đông Bắc Kinh thành Huế, là nơi diễn ra trận giao tranh giữa quân triều Nguyễn do Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn chỉ huy với quân Pháp vào ngày 7/5/1885. (Ảnh: Chụp màn hình báo Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia)

Linh hồn của phong trào Cần Vương và lòng kiên trung nơi đất khách

Sau khi hộ giá vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, Trần Xuân Soạn được phong chức Tả quân đô thống và được phái về quê hương Thanh Hóa để trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến tại đây,,. Với tư cách là tổng chỉ huy phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa, ông đã thực hiện một chiến lược quân sự sáng suốt khi thống nhất các đội nghĩa quân địa phương và xây dựng một hệ thống chỉ huy chặt chẽ từ cấp tỉnh đến các xã, tổng.

Điểm đặc biệt trong tư duy quân sự của Trần Xuân Soạn là việc coi trọng cả địa bàn rừng núi lẫn đồng bằng. Trong khi nhiều lãnh đạo khác muốn dựa hoàn toàn vào vùng núi hiểm trở, ông lập luận rằng vùng đồng bằng tuy khó phòng thủ nhưng lại là nơi tập trung nhân lực, vật lực dồi dào. Chính vì vậy, ông đã cùng các sĩ phu như Đinh Công Tráng, Phạm Bành quyết định xây dựng căn cứ Ba Đình tại Nga Sơn – nơi có thể liên kết giữa đồng bằng và rừng núi,. Bản thân Trần Xuân Soạn trực tiếp chỉ huy nghĩa quân đóng tại phủ Quảng Hóa để làm lực lượng hỗ trợ ngoại vi cho Ba Đình và Mã Cao, đồng thời cắt đứt các đường tiếp tế của địch từ phía Bắc vào.

Sự kiên trung của ông đã được thử thách qua một sự kiện vô cùng đau đớn. Khi không thể chiêu hàng được Trần Xuân Soạn, thực dân Pháp đã thực hiện hành động đê hèn là sai người đào mộ cha ông, lấy hài cốt đem thiêu hủy giữa đường nhằm lung lạc ý chí của vị tướng. Tuy nhiên, vì nghĩa lớn đối với non sông, ông đã nén đau thương, quyết không hàng giặc,. Tinh thần này đã trở thành nguồn động viên to lớn cho nghĩa quân tiếp tục chiến đấu quyết liệt tại Ba Đình và các cứ điểm lân cận.

Sau khi căn cứ Ba Đình và Mã Cao lần lượt thất thủ vào đầu năm 1887, Trần Xuân Soạn đã nỗ lực rút quân lên vùng núi để xây dựng lại lực lượng, nhưng tình thế ngày càng bất lợi,. Ông quyết định sang Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) để gặp Tôn Thất Thuyết bàn kế hoạch cầu viện và tổ chức lại quân đội,,. Tuy nhiên, nỗ lực này không thành công và ông bị mắc kẹt tại đất khách,. Dẫu sống lưu vong, ông vẫn cùng các sĩ phu tại Hoa Nam tổ chức các toán quân lẻ thực hiện các hoạt động quấy rối vùng biên giới.

Trong những năm tháng lưu lạc, ông đã gửi gắm tâm sự qua bài thơ “Thuật hoài” (Tỏ chí mình), khẳng định tấm lòng sắt son với nước: “Bao nỗi ly biệt phó cho dòng nước chảy về đông / Trong bước lưu lạc trước sau chỉ một tấm lòng”. Cả gia đình ông cũng đều cống hiến cho sự nghiệp cứu nước: em trai là Trần Xuân Huấn và con trai là Trần Xuân Kháng đều hy sinh hoặc bị địch bắt bớ, quản thúc,. Trần Xuân Soạn mất ngày 17 tháng 12 năm 1923 tại Long Châu, hưởng thọ 74 tuổi,,. Cuộc đời ông từ một người lính nghèo đến một vị tướng lẫy lừng đã trở thành một phần hào hùng của lịch sử dân tộc, được nhân dân tôn vinh và đặt tên cho nhiều con đường lớn tại Hà Nội, Thanh Hóa và Thành phố Hồ Chí Minh.