Con đập lớn nhất Đông Dương và dấu ấn một hoàng thân Lào trên sông Chu xứ Thanh

Năm 1926, khi cửa cống đầu tiên trong bảy cửa cống được kéo lên, dòng nước sông Chu ùa vào lòng con sông Đào mới đào, len lỏi qua hơn bảy mươi cây số đồng ruộng để tìm tới vùng đất cát chua mặn giáp biển Quảng Xương.

Đó là khoảnh khắc hệ thống thủy nông Bái Thượng chính thức đi vào hoạt động — công trình mà vào thời điểm hoàn thành được xem là đại thủy nông lớn nhất Đông Dương, và cho đến nay, gần một thế kỷ sau, vẫn là mạch nước nuôi sống vùng lúa trọng điểm của Thanh Hóa. Đằng sau con đập bê tông vắt ngang sông Chu ấy là một quá trình khảo sát, thiết kế và thi công kéo dài hơn hai thập niên, gắn liền với tên tuổi một kỹ sư trẻ người Lào – người sau này trở thành nguyên thủ quốc gia của đất nước láng giềng.

Từ khảo sát đến khánh thành

Cống bảy cửa đóng mở, điều tiết nước vào sông Đào. (Ảnh sưu tầm tư liệu)

Những cuộc khảo sát địa hình, thủy văn trên sông Chu được người Pháp tiến hành từ năm 1905. Phải mất một thập niên đo đạc, đến năm 1915, kỹ sư người Pháp mới hoàn thành hồ sơ thiết kế cùng báo cáo hiệu quả kinh tế để trình phê duyệt. Công trình được khởi công từ năm 1918, hạng mục đập chính chính thức đặt móng ngày 28/3/1920. Đây là công trình thi công gần như hoàn toàn bằng sức người, giữa địa hình miền núi thượng nguồn sông Chu. Người trực tiếp chỉ huy công trường là một chàng kỹ sư cầu đường vừa tốt nghiệp Đại học Paris – hoàng thân Souphanouvong, từng theo học tại Trường Bưởi ở Hà Nội trước khi sang Pháp. Ngày 10/1/1926, đập khánh thành với tổng chi phí 4.760.000 đồng Đông Dương; đến năm 1928, toàn hệ thống được bàn giao cho Sở Thủy nông Trung Kỳ quản lý, vận hành.

Đập chính dài 160 mét, cao 20 mét, xây bằng bê tông, dâng nước sông Chu vào công trình cống bảy cửa – nơi điều tiết dòng chảy trước khi đổ vào con sông Đào, tuyến kênh nhân tạo dẫn nước xuôi về vùng đồng bằng. Từ đầu mối này, mạng lưới kênh mương tổng cộng dài 110 km tỏa đi khắp các huyện hữu ngạn sông Chu, tưới cho khoảng 50.000 ha đất canh tác. Đến nay, vùng hưởng lợi từ hệ thống Bái Thượng vẫn là vùng trọng điểm lúa của tỉnh, chiếm khoảng 40% sản lượng lương thực toàn Thanh Hóa mỗi năm, đồng thời cấp nước sinh hoạt cho hàng triệu người dân trong vùng.

Một trong những công trình đại thủy nông của Đông Dương

Con đập nhìn từ hạ lưu ngày nước lớn. (Ảnh: Đặng Hoàng Giang)

Cùng thời kỳ, người Pháp còn để lại hai công trình thủy lợi lớn khác ở miền Trung: đập Bara Đô Lương trên sông Lam (Nghệ An), dài 345 mét, xây dựng giai đoạn 1933-1937 – công trình mà chính hoàng thân Souphanouvong cũng tham gia với vai trò kỹ sư, tiếp nối kinh nghiệm từ Bái Thượng; và đập Đồng Cam trên sông Ba (Phú Yên), một dạng đập tràn dài tới 680 mét nhưng thấp hơn, với hồ sơ thiết kế phải mất 14 năm khảo sát gián đoạn mới được phê duyệt. Trong ba công trình ấy, Bái Thượng là công trình khởi công sớm nhất, và ở thời điểm hoàn thành, là công trình có quy mô lớn nhất.

Trải qua nhiều biến động của thế kỷ XX, hệ thống vẫn được duy trì, tu sửa các hạng mục chính vào năm 1998, và gần đây được hỗ trợ thêm bởi hồ chứa Cửa Đạt ở thượng nguồn, giúp điều tiết lũ và bổ sung nguồn nước ổn định hơn cho toàn hệ thống. Đơn vị quản lý hiện nay là Công ty TNHH một thành viên Sông Chu, kế thừa từ Chi cục Nông Giang Sông Chu thành lập năm 1946, nay đảm nhiệm hơn 75 hồ đập và hơn 200 trạm bơm tưới tiêu trên khắp tỉnh.

Con sông Đào vẫn chảy qua những cánh đồng lúa xứ Thanh mỗi mùa, mang theo dòng nước mà một chàng kỹ sư trẻ từng đo đạc bằng chính đôi chân của mình gần một thế kỷ trước.

Nhật Minh (tổng hợp)