Kênh nhà Lê: Dòng thủy đạo nghìn năm qua đất Bắc Trung Bộ

Hơn một nghìn năm trước, những nhát cuốc đầu tiên đã mở một con đường bằng nước xuyên qua vùng đất Bắc Trung Bộ. Kênh nhà Lê từng nối các dòng sông, phục vụ những cuộc nam chinh, mở đường cho cư dân và trở thành tuyến vận tải trong chiến tranh. Hôm nay, nhiều đoạn kênh vẫn tồn tại nhưng vai trò đã khác, đặt ra bài toán giữ lại một di sản được tạo nên qua nhiều thế kỷ.

Con đường nước ra đời từ một bài toán địa lý

Năm 982, sau cuộc tiến công Champa, Lê Đại Hành trở về Hoa Lư. Theo nghiên cứu của sử gia Li Tana, nhà vua nhận ra một trở ngại lớn: vùng lãnh thổ về phía nam không có một tuyến đường thủy tự nhiên liên tục để kết nối với đồng bằng Bắc Bộ. Nước vì thế trở thành phương tiện để nhà nước thời bấy giờ vượt qua một giới hạn của địa hình.

Năm 983, Lê Đại Hành cho đào kênh ở khu vực Thanh Hóa, từ vùng núi Đồng Cổ nối các dòng nước về phía nam. Công trình được hoàn thành khá nhanh. Hai mươi năm sau, năm 1003, nhà vua tiếp tục cho vét kênh Đa Cái về phía Hoan Châu. Các triều đại sau tiếp tục đào, nạo vét và nối những đoạn sông tự nhiên với kênh nhân tạo.

Vì thế, “kênh nhà Lê” không nên được hình dung như một con kênh thẳng dài hàng trăm kilomet. Đó là một mạng lưới thủy đạo, trong đó những đoạn đào mới được ghép với các dòng sông có sẵn. Theo Li Tana, hệ thống cuối cùng liên kết khoảng 17 con sông và hơn 10 cảng ở vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh, kéo dài khoảng 500km.

Cách làm ấy vừa tiết kiệm sức đào, vừa tận dụng địa hình. Nhưng nó cũng cho thấy mục tiêu của công trình không chỉ là giao thông. Trong bối cảnh Đại Việt tìm cách kiểm soát và kết nối lãnh thổ về phía nam, một tuyến đường thủy có thể đưa quân đội, lương thực và vật tư đến những vùng mà đường bộ khi ấy rất khó tiếp cận.

Từ một công trình phục vụ nhu cầu của triều đình, dòng nước dần đi vào đời sống của cư dân. Những vùng ven kênh có thêm điều kiện giao thương, sản xuất và hình thành làng xóm. Ở Nghệ An, tuyến kênh dài khoảng 128km qua địa bàn tỉnh từng giữ vai trò giao thông, thủy lợi và góp phần cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.

Một đoạn kênh mất hơn tám thế kỷ để thông dòng

Đọan kênh qua vùng Truông Săt, Nghệ An xưa. (Ảnh minh họa: THM)

Trong mạng lưới ấy, kênh Sắt là đoạn cho thấy rõ nhất giới hạn của sức người.

Khi tuyến kênh được đào về phía Nghệ An, người xưa gặp Truông Sắt, nơi lòng đất có đá và quặng cứng. Công việc bị đình trệ qua nhiều thế hệ. Các triều đại sau tiếp tục tìm cách đào nhưng không thành công.

Đến năm 1866, Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm mời Nguyễn Trường Tộ khảo sát. Thay vì tiếp tục đối đầu trực diện với lớp đá, ông tìm cách điều chỉnh hướng tuyến, tránh khu vực địa chất khó đào. Theo tư liệu về Nguyễn Trường Tộ và nghiên cứu lịch sử địa phương, công việc được hoàn thành trong thời gian ông còn ở Nghệ An; năm sau tiếp tục nạo vét, đắp bờ để hoàn thiện.

Nếu tính từ lần khởi đào năm 1003 đến năm 1866, đoạn kênh Sắt đã trải qua hơn tám thế kỷ mới được khai thông. Con số ấy không chỉ nói về sự gian nan của một công trình thủy lợi cổ. Nó còn cho thấy một đặc điểm khác của những công trình lớn trong lịch sử: có những việc không được hoàn thành trong một triều đại, thậm chí không trong một đời người, mà được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ.

Nguyễn Trường Tộ chỉ xuất hiện ở đoạn cuối của hành trình ấy. Điều giúp ông giải quyết nút thắt không đơn thuần là thêm nhân công, mà là một cách tiếp cận khác với địa hình. Chính điểm này khiến câu chuyện kênh Sắt vượt ra ngoài một giai thoại về đào kênh.

Từ đường quân lương đến “đường mòn trên sông”

Qua nhiều thế kỷ, vai trò của kênh Nhà Lê thay đổi theo nhu cầu của xã hội. Từ một tuyến thủy đạo phục vụ quân sự, nó trở thành đường vận chuyển hàng hóa, góp phần kết nối các vùng cư dân ven sông.

Đến thế kỷ XX, dòng kênh lại mang một nhiệm vụ khác. Trong chiến tranh chống Mỹ, khi các tuyến giao thông miền Bắc bị đánh phá, hệ thống kênh Nhà Lê được khôi phục để phục vụ vận tải. Nghiên cứu của Li Tana ghi nhận năm 1964, một chương trình phục hồi được triển khai đồng thời ở Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh; tuyến kênh khi đó có thể phục vụ tàu khoảng 10 tấn.

Bức phù điêu bên trái đài tưởng niệm, tái hiện cảnh dân phu nạo vét kênh bằng sức người và công cụ thô sơ. (Ảnh minh họa: THM)

Ở Nghệ An, ký ức về những năm tháng này được lưu giữ tại Đài tưởng niệm kênh Nhà Lê ở Nghi Yên. Khu di tích có bia ghi danh 130 liệt sĩ, cùng các phù điêu tái hiện cảnh đào, nạo vét và vận tải trên tuyến kênh. Năm 2016, phần di tích kênh Nhà Lê tại thành phố Vinh, Hưng Nguyên và Nghi Lộc được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.

Tên gọi “đường mòn Hồ Chí Minh trên sông” vì thế xuất hiện trong ký ức về thời chiến. Nhưng nếu chỉ nhìn kênh Nhà Lê qua chiến tranh, người ta sẽ bỏ qua phần lớn lịch sử của nó. Dòng nước này đã tồn tại từ cuối thế kỷ X, nhiều lần suy thoái, biến mất ở một số đoạn rồi được phục hồi. Chính tính không liên tục ấy là một đặc điểm quan trọng của lịch sử hệ thống kênh.

Di sản đứng giữa dòng nước hiện đại

Ngày nay, kênh Nhà Lê không còn là một tuyến giao thông thủy xuyên Bắc Trung Bộ như trước. Nhiều đoạn đảm nhiệm chức năng thủy lợi, tiêu thoát nước hoặc phục vụ sản xuất.

Một đoạn sông nhà Lê giữa phường Hạc Thành (Thanh Hóa). (Ảnh minh họa: THM)

Ở Thanh Hóa, đoạn sông Nhà Lê dài gần 17km qua Thiệu Hóa, Đông Sơn, phường Hạc Thành (thành phố Thanh Hóa cũ) và Quảng Xương từng là một tuyến giao thông quan trọng nhưng đã chịu sức ép lớn từ đô thị hóa và ô nhiễm. Năm 2025, một đoạn bờ sông tại Quảng Yên, Quảng Xương sạt lở khoảng 40m; cơ quan chức năng xác định việc tự ý đào rãnh nối một ao vật liệu với hệ thống kênh là nguyên nhân gây vỡ bờ.

Ở Hà Tĩnh, những đoạn mang tên kênh Nhà Lê hiện vẫn giữ chức năng thủy lợi. Một tuyến qua Hồng Lĩnh và Đức Thọ có nhiệm vụ tiêu thoát lũ, đồng thời tạo nguồn nước cho các trạm bơm phục vụ sản xuất. Các đơn vị quản lý phải thường xuyên vớt bèo, cỏ dại và khơi thông dòng chảy.

Điều đó tạo nên một nghịch lý: một công trình được tạo ra từ nhu cầu chinh phục địa hình nay lại phụ thuộc vào những hoạt động bảo dưỡng rất đời thường để tiếp tục tồn tại.

Kênh Nhà Lê đoạn phường Tân Mai (Nghệ An), đoạn hợp lưu với sông Mơ và những đoạn uốn qua núi đá vôi. (Ảnh minh họa: THM)

Năm 2016, việc xếp hạng di tích quốc gia phần kênh Nhà Lê tại Nghệ An đã tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo tồn. Nhưng bảo tồn một tuyến thủy đạo dài hàng trăm kilomet khó giống bảo tồn một công trình đứng yên. Dòng nước phải tiếp tục chảy, phải phục vụ sản xuất, tiêu úng, cấp nước; trong khi dấu tích lịch sử lại cần được nhận diện và gìn giữ.

Sau hơn một nghìn năm, điều còn lại của kênh Nhà Lê không phải là một đường nước nguyên vẹn từ Ninh Bình đến Hà Tĩnh. Đó là những đoạn sông, con kênh, địa danh và ký ức nối với nhau bởi một ý tưởng từng rất lớn: dùng nước để nối những vùng đất mà tự nhiên không nối được.

Dòng kênh đã thay đổi nhiều lần theo những người đào nó, sử dụng nó và cải tạo nó. Có lẽ chính những đoạn còn lại, giữa một vùng đất đang đổi thay từng ngày, mới là nơi lịch sử của kênh Nhà Lê hiện ra rõ nhất: không phải một công trình bất biến, mà là dấu vết của hơn một nghìn năm con người tìm cách thay đổi dòng nước và rồi lại phải học cách sống cùng nó.

Nhật Minh (tổng hợp)